Tag Archive: Quốc hội

Xây dựng Cảng hàng không quốc tế Long Thành có quy mô lớn trong khu vực

(Công lý) – Sáng 29/10, các ĐBQH thảo luận tại Hội trường nghe Tờ trình Báo cáo đầu tư dự án đầu tư xây dựng Cảng hàng không quốc tế Long Thành; thảo luận các nội dung còn ý kiến khác nhau của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật hàng không dân dụng VN.

Đầu tư xây dựng Cảng hàng không quốc tế Long Thành là cần thiết

Tờ trình Báo cáo đầu tư dự án đầu tư xây dựng Cảng hàng không quốc tế Long Thành do Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Đinh La Thăng trình bày nêu rõ: Việc đầu tư xây dựng Cảng hàng không quốc tế Long Thành là cần thiết, vì sẽ hình thành và phát triển một cảng hàng không quốc tế trung chuyển có quy mô tầm cỡ trong khu vực nhằm phục vụ Chiến lược phát triển vận tải hàng không Việt Nam. Bộ trưởng nhấn mạnh, cùng với xu hướng phát triển của hàng không quốc tế, với lợi thế về vị trí địa lý và tiềm năng phát triển giao thông hàng không, nước ta cũng cần sớm hình thành một cảng hàng không quốc tế đóng vai trò trung tâm trung chuyển trong khu vực là một nhu cầu thực tế và mang tính chiến lược phát triển. Hơn nữa việc xây dựng Cảng hàng không quốc tế Long Thành đáp ứng nhu cầu vận tải hàng không khi Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất đạt công suất thiết kế và trở nên quá tải.

Đại biểu Quốc hội  TP. Hồ Chí Minh Trần Du Lịch phát biểu ý kiến. Ảnh: TTXVN   

Báo cáo nêu rõ: Việc lựa chọn vị trí quy hoạch và xây dựng Cảng hàng không quốc tế Long Thành đã được các cơ quan chuyên môn của ngành hàng không dân dụng nghiên cứu kỹ lưỡng từ năm 1993. Bên cạnh đó, các quy hoạch kinh tế – xã hội, quy hoạch xây dựng, quy hoạch sử dụng đất và các quy hoạch chuyên ngành khác đã được phê duyệt cũng đồng bộ với việc hình thành nên cảng hàng không Quốc tế Long Thành. Nhiều công trình quy hoạch đã được triển khai đầu tư, nhất là các tuyến giao thông tạo điều kiện kết nối thuận tiện giữa Cảng hàng không quốc tế Long Thành với Thành phố Hồ Chí Minh và các vùng lân cận .

Bộ trưởng cho biết, mục tiêu đầu tư xây dựng Cảng hàng không quốc tế Long Thành từng bước đạt cấp 4F (theo phân cấp của ICAO); giữ vai trò là Cảng hàng không quốc tế cửa ngõ lớn và quan trọng bậc nhất của quốc gia, dự kiến trong tương lai sẽ trở thành một trong những trung tâm trung chuyển vận tải hàng không tại khu vực Đông Nam Á.

Toàn bộ Dự án dự kiến chia thành 03 giai đoạn. Giai đoạn 1: Đầu tư nhà ga hành khách công suất 25 triệu khách/năm, nhà ga hàng hóa công suất 1,2 triệu tấn hàng hóa/năm, 02 đường cất hạ cánh song song có cấu hình đóng, nhằm chia sẻ sự quá tải cho Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất. Trong đó g iai đoạn 1a: Xây dựng nhà ga chính có 01 nhánh trung tâm, 01 đường cất hạ cánh đáp ứng lượng hành khách 17 triệu khách/năm, mở cửa vào năm 2023; giai đoạn 1b: Xây dựng hai cánh còn lại của nhà ga chính trung tâm và đường cất hạ cánh thứ hai, mở cửa vào năm 2025. Giai đoạn 2: Nhà ga hành khách công suất 50 triệu khách/năm, nhà ga hàng hóa công suất 1,5 triệu tấn hàng hóa/năm, thêm một đường cất hạ cánh, mở cửa vào năm 2030. Giai đoạn sau cùng: Nhà ga hành khách đạt công suất 100 triệu khách/năm, nhà ga hàng hóa công suất 5,0 triệu tấn hàng hóa/năm, 04 đường cất hạ cánh.

Khái toán tổng mức đầu tư giai đoạn 1 của Dự án khoảng 7,837 tỷ USD ( tương đương 164.5 89 tỷ đồng), trong đó, phân kỳ giai đoạn 1a có tổng mức đầu tư khoảng 5,662 tỷ USD (tương đương 118.910 tỷ đồng).

Cơ cấu nguồn vốn: Dự kiến vốn nhà nước (vốn ngân sách, trái phiếu Chính phủ, ODA…) giai đoạn 1 là 84.624 tỷ đồng. Trong đó, giai đoạn 1a là 57.857,7 tỷ đồng (khoảng 48,65% khái toán tổng mức đầu tư). Vốn huy động khu vực ngoài nhà nước (vốn doanh nghiệp, cổ phần, liên doanh liên kết, hợp tác công tư) là 79.965 tỷ đồng. Trong đó, giai đoạn 1a là 61.052,6 tỷ đồng (51,35% khái toán tổng mức đầu tư).

Thẩm tra Báo cáo đầu tư dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành, Ủy ban Kinh tế của Quốc hội đánh giá dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành đáp ứng tiêu chí là dự án quan trọng quốc gia; tán thành chủ trương của Đảng và Nhà nước nước ta cần có một Cảng hàng không quốc tế hiện đại đáp ứng nhu cầu vận tải hàng không, góp phần phát triển kinh tế – xã hội và gắn với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Tuy nhiên cũng có ý kiến đề nghị làm rõ tính cấp thiết hay là tính cần thiết của việc đầu tư Cảng hàng không quốc tế Long Thành, nếu chưa cấp thiết thì cân nhắc thời điểm đầu tư thích hợp.

Báo cáo đầu tư dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành với tổng mức đầu tư giai đoạn 1 khoảng 164.589 tỷ đồng (tương đương 7,8 tỷ USD), trong đó: Vốn nhà nước bao gồm ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ và ODA là 84.624 tỷ đồng, vốn khác là 79.965 tỷ đồng. Ủy ban Kinh tế cho rằng, đây mới là vốn đầu tư của giai đoạn 1 của dự án, nếu tính cả 3 giai đoạn thì tổng mức đầu tư sẽ rất lớn (khoảng 18,7 tỷ USD). Mặt khác, dự toán mức đầu tư cho giai đoạn 1 là ước tính, mức độ chính xác chưa cao. Ngoài ra, các dự án thuộc hệ thống hạ tầng kết nối với Cảng hàng không quốc tế Long Thành cần được tính toán, cân đối cùng với tổng vốn đầu tư Cảng hàng không này.

Về phương án huy động vốn: Việc đầu tư xây dựng Cảng hàng không quốc tế Long Thành sử dụng nguồn vốn nhà nước, vốn vay trong bối cảnh nợ công tăng nhanh và ngân sách nhà nước khó khăn thì chưa bảo đảm tính khả thi. Mặt khác, nếu khả năng vay được từ nguồn của các tổ chức tài chính quốc tế thì cũng phải có sự bảo lãnh của Chính phủ. Có ý kiến đề nghị về huy động vốn cần quán triệt Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 16/1/2012 của Ban chấp hành Trung ương, theo đó, huy động vốn ODA và khuyến khích hợp tác công tư.

Khắc phục tình trạng chậm chuyến, hủy chuyến trong vận chuyển hàng không dân dụng

Thời gian còn lại của phiên làm việc sáng nay, các đại biểu Quốc hội thảo luận các nội dung còn ý kiến khác nhau của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam.

Qua thảo luận, nhiều ý kiến đề nghị cần bổ sung quy định các biện pháp nhằm khắc phục tình trạng chậm chuyến, hủy chuyến trong vận chuyển hàng không dân dụng. Theo đại biểu Quốc hội, việc chậm chuyến, hủy chuyến trong vận chuyển hàng không dân dụng là vi phạm hợp đồng vận chuyển, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của hành khách. Tuy nhiên, Luật hiện hành thiếu quy định ràng buộc trách nhiệm của doanh nghiệp vận chuyển trong việc bảo đảm thực hiện các điều kiện vận chuyển, việc d uy trì chất lượng tối thiểu của dịch vụ, thiếu các quy định về tiêu chuẩn tối thiểu mà doanh nghiệp phải bảo đảm cho hành khách.

Dự thảo Luật đã bổ sung quy định về nghĩa vụ của doanh nghiệp kinh doanh vận chuyển hàng không , nghĩa vụ duy trì các điều kiện và chất lượng tối thiểu dịch vụ vận chuyển (khoản 4a Điều 110); bổ sung trách nhiệm của người vận chuyển trong trường hợp chuyến bay bị chậm kéo dài mà không được thông báo trước (khoản 5 Điều 145); giao Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định về thời gian chuyến bay bị chậm kéo dài và chất lượng dịch vụ tối thiểu cho hành khách tại cảng hàng không, sân bay (khoản 5 và khoản 6 Điều 145). Đồng thời, cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành hàng không dân dụng cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp trong trường hợp để xảy ra gián đoạn, chậm chuyến, hủy chuyến bay…

Tuy nhiên, đại biểu Nguyễn Thanh Thụy (Bình Định) cho rằng, cần phải quy định rõ trách nhiệm bồi thường, cơ quan giải quyết khiếu nại đòi bồi thường của khách hàng khi bị chậm, hủy chuyến. Đồng thời, cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành hàng không dân dụng cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp trong trường hợp để xảy ra gián đoạn, chậm chuyến, hủy chuyến bay…

Quan tâm đến giá cả dịch vụ tại sân bay, đại biểu Nguyễn Đức Kiên (Sóc Trăng) đề nghị, phải đấu thầu các dịch vụ tại sân bay để có giá cả phù hợp giá trị trường, “việc Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải ra văn bản chỉ đạo giảm giá dịch vụ chỉ thể hiện được sự quan tâm, nhưng về quản lý nhà nước lại có vấn đề và khó sâu sát cho quyền lợi người tiêu dùng” – đại biểu nhấn mạnh.

Theo một số đại biểu, cần quan tâm nhiều hơn đến công tác phối hợp trong quản lý các sân bay, “không thể để như việc khai thác sân bay Tân Sơn Nhất có quá nhiều bài học đắt giá do yếu kém trong quản lý, phân cấp không rõ ràng, buộc Quốc hội phải xem xét chủ trương đầu tư xây dựng mới cảng hàng không Long Thành để khắc phục” – đại biểu Lê Nam (Thanh Hóa) lưu ý. Đại biểu Trần Du Lịch (TP.Hồ Chí Minh) đề nghị sửa đổi Luật này cần xem xét hai nội dung về phát triển hàng không giá rẻ và phân phối đường bay ngắn.

Quỳnh Hoa

Continue Reading

Những điều kiện cần và đủ để Tòa án thực hiện quyền tư pháp

(Công lý) – Dự thảo Luật Tổ chức TAND (sửa đổi) khi thảo luận tại hội trường ngày 28/10 đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp và đồng tình của ĐBQH, nhất là nội dung liên quan đến việc thực hiện quyền tư pháp của Tòa án.

Để rõ hơn vấn đề này, chúng tôi có cuộc trao đổi với Đại biểu Nguyễn Sơn, Phó Chánh án TANDTC về những nội dung liên quan.

PV: Ông có đánh giá như thế nào về Dự thảo Luật Tổ chức TAND (sửa đổi) và quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của TAND thể hiện tại Điều 2 Dự thảo?

ĐB Nguyễn Sơn: Theo quy định tại Hiến pháp năm 2013 thì quyền lực Nhà nước là thống nhất theo sự phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Tòa án nhân dân (TAND) là cơ quan xét xử nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện quyền tư pháp có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế  độ xã hội chủ nghĩa.

Kết luận số 92 của Bộ Chính trị cũng đặt yêu cầu nghiên cứu xác định rõ nội hàm “quyền tư pháp”, xây dựng cơ chế kiểm soát chặt chẽ giữa các cơ quan trong việc thực hiện các hoạt động tư pháp. Vì vậy, cụ thể hóa quy định của Hiến pháp xây dựng một thể chế đúng, đủ, chính xác chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của TAND, tạo cơ sở pháp lý cho TAND thực hiện quyền tư pháp nhằm bảo vệ công lý, góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang là sự quan tâm, mong đợi của nhân dân và cộng đồng quốc tế. Do đó, về cơ bản chúng tôi nhất trí cao với các nội dung về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của TAND thể hiện tại Điều 2 Dự thảo.

Đại biểu Nguyễn Sơn, Phó Chánh án TANDTC

PV: Ông có thể nói rõ hơn về điều này được không?

ĐB Nguyễn Sơn: Thứ nhất, theo điểm c khoản 3 Điều 2 Luật Tổ chức TAND (sửa đổi), khi thực hiện nhiệm vụ xét xử hình sự, Tòa án có quyền trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung, hoặc yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung tài liệu chứng cứ, hoặc chủ trì, phối hợp với Viện kiểm sát xác định việc xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ nếu xét thấy cần thiết. Đây là vấn đề hết sức quan trọng liên quan đến Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) sửa đổi sắp tới để bảo đảm Tòa án thực hiện quyền tư pháp, đối chiếu với quy định tại Điều 179 BLTTHS hiện hành, thẩm quyền này thuộc về Thẩm phán và Hội đồng xét xử.

Như vậy, Dự thảo chỉ nhắc lại những quy định của BLTTHS hiện hành, chưa thể hiện sự kiểm soát giữa các cơ quan thực hiện quyền tư pháp với cơ quan hoạt động tư pháp, Tòa án chỉ yêu cầu mà không có quyền quyết định là không phù hợp với Hiến pháp mới và chủ trương của Đảng về kiểm soát quyền lực, không bảo đảm cho Tòa án thực hiện được quyền tư pháp.

Qua thực tiễn của BLTTHS hiện hành và công tác xét xử của Tòa án, nghiên cứu hồ sơ và các tài liệu trình Quốc hội về dự án Luật Tổ chức TAND (sửa đổi), chúng tôi đồng tình với Báo cáo số 45 ngày 29/9/2014 của cơ quan chủ trì soạn thảo giải trình và đề xuất, đồng thời chúng tôi đề nghị Quốc hội thảo luận kỹ ý kiến chỉ đạo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại phiên họp ngày 23/9/3014 đã kết luận để bảo đảm cho TAND thực hiện một nhiệm vụ Hiến định là bảo vệ công lý thì Tòa án phải kiểm soát toàn bộ quá trình tố tụng hình sự từ khi khởi tố cho đến khi tuyên án.

Theo đó, Tòa án phải có quyền tự điều tra, kiểm tra, tự xem xét lại để từ đó phát hiện và khắc phục việc điều tra sai, truy tố sai nếu có. Có như vậy mới bảo đảm để Tòa án thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ xét xử, thực hiện quyền tư pháp đã được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận. Chúng tôi thấy rằng ý kiến đó là phù hợp với các quy định chung trong BLTTHS hiện hành về một số nội dung như:

Thứ nhất, Điều 10 xác định sự thật của vụ án, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng, Công an, Viện kiểm sát và Tòa án.

Thứ hai, Điều 64 về chứng cứ, chứng cứ do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội.

Thứ ba, Điều 65 thu thập chứng cứ, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án có quyền triệu tập những người biết về vụ án để hỏi và nghe họ trình bày những vấn đề có liên quan đến vụ án, trưng cầu giám định, tiến hành khám xét, khám nghiệm và các hoạt động khác theo quy định của Bộ luật này yêu cầu tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, trình bày những tình tiết để làm sáng tỏ vụ án.

Thứ tư, Điều 104 về việc Hội đồng xét xử có quyền yêu cầu khởi tố vụ án hoặc yêu cầu hủy các quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng.

Các điều luật trên thể hiện Tòa án có quyền điều tra, khởi tố vụ án, tuy nhiên các chương chuẩn bị xét xử, xét xử của BLTTHS hiện hành thì Tòa án chỉ được trả hồ sơ, yêu cầu điều tra bổ sung như đã nêu trên.

PV: Như vậy có thế thấy rằng thẩm quyền điều tra của Tòa án rất quan trọng, góp phần hạn chế oan sai trong tố tụng phải không thưa ông?

ĐB Nguyễn Sơn: Điều tra của Tòa án là phải triệu tập những người cần xét hỏi đến phiên tòa để điều tra công khai và phiên tòa phải thực hiện từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc. Trong quá trình đó Hội đồng xét xử được thực hiện việc xem xét tại chỗ dẫn đến tình trạng trong thời gian chuẩn bị xét xử và trong giai đoạn xét xử, Thẩm phán, Hội đồng xét xử thấy cần điều tra bổ sung để xác định có tội hay không có tội; cần khởi tố, truy tố thêm tội, thêm hành vi phạm tội. Nhưng Viện kiểm sát không chấp nhận hoặc chỉ làm thêm một số nội dung, còn một số nội dung khác không đáp ứng yêu cầu của Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử thì Tòa án vẫn phải tiến hành xét xử theo Điều 179 BLTTHS, Thẩm phán phải triệu tập những người cần xét hỏi để xét hỏi.

Tuy nhiên, việc triệu tập những người làm chứng, những người liên quan đến vụ án là hết sức khó khăn. Hầu hết những người được triệu tập không muốn liên lụy đến vụ án. Có trường hợp do bị đe dọa, sợ bị trả thù, thậm chí bị mua chuộc do nể nang là họ hàng, bạn bè, hàng xóm thân thích, không có mặt tại địa phương và hầu hết họ không muốn có mặt để khai báo khi có bị cáo hoặc người bị hại ở phiên tòa. Khi triệu tập không được, Thẩm phán ra lệnh áp giải thì hầu hết Công an lập biên bản xác minh và xác định họ đã bỏ nhà đi làm ăn xa gia đình, hiện nay không biết ở đâu. Do đó, Tòa án không thể điều tra làm rõ ở phiên tòa và như vậy việc xem xét thẩm định tại chỗ cũng không thể thực hiện được, đặc biệt với các vụ án có người kêu oan.

Vì vậy chủ yếu vẫn phải dựa vào hồ sơ vụ án mà chính Tòa án cũng thấy chưa rõ đúng hay sai, sẽ dẫn đến hậu quả Tòa án có thể tuyên bị cáo không phạm tội, sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của người bị hại. Nếu có kháng cáo có thể sẽ dẫn đến vụ án bị hủy để điều tra lại làm cho vụ án bị kéo dài, gây tốn kém rất nhiều.

Trong trường hợp Thẩm phán yêu cầu truy tố thêm người phạm tội, hủy bỏ quyết định đình chỉ nhưng Viện kiểm sát không chấp nhận, dẫn đến bỏ lọt tội phạm. Nếu cấp sơ thẩm không giải quyết thì cấp phúc thẩm cũng không thể giải quyết mà phải chờ đến cấp giám đốc thẩm hủy án để điều tra, xét xử lại, làm cho vụ án bị kéo dài.

PV: Nếu như vậy theo ông phải quy định trong Dự thảo Luật như thế nào cho phù hợp?

ĐB Nguyễn Sơn: Theo tôi, cần phải quy định tại điểm c khoản 3 Điều 2 Dự thảo Luật Tổ chức TAND (sửa đổi) như sau: Trả hồ sơ, yêu cầu Viện kiểm sát điều tra bổ sung hoặc yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc tự điều tra xác minh thu thập chứng cứ, khắc phục những việc điều tra sai, truy tố sai theo ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Có như vậy mới đảm bảo việc kiểm soát quyền lực và bảo vệ được công lý.

PV: Trân trọng cảm ơn ông!

Continue Reading