Công tác thi hành án dân sự nên giao lại cho Toà án

Khi giao lại nhiệm vụ này cho Tòa án sẽ tháo gỡ được phần lớn những bất cập trong công tác thi hành án dân sự hiện nay. Đó là ý kiên của Đại biểu Quốc hội khi thảo luận về Dự án Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi) ngày 3/11.

Việc kiểm soát công tác thi hành án là vấn đề lớn, quan trọng. Hiện nay, ngoài chế phối hợp của Bộ Tư pháp – TANDTC – VKSNDTC – Bộ Công an ra thì chưa có cơ chế kiểm soát chặt chẽ mà đây chỉ là đối chiếu đối với các bản án, quyết định có thi hành. Trên thực tế, dư luận rất quan tâm đến việc các bản án khó thi hành hiện nay. Theo báo cáo của cơ quan thi hành án dân sự thì số việc tồn đọng hiện nay chủ yếu là án phí và tiền phạt thu cho ngân sách Nhà nước. Người phải thi hành án hầu hết là người phạm các tội về ma túy, án tù 10, 20 năm, chung thân thậm chí đã tử hình hoặc là những người nghiện ma túy, phạm tội.

Công tác thi hành án dân sự khó thi hành liên tục xảy ra và nguyên nhân do đâu thì Phó chánh án TANDTC- Nguyễn Sơn cho rằng có nhiều nguyên nhân, gồm cả khách quan và chủ quan. Ngoài việc các bản án tuyên không rõ ràng, khó thi hành thì việc sửa đổi Bộ luật Hình sự vào năm 1997 quy định các tội phạm ma túy thời điểm đó phải chịu hình phạt bổ sung bắt buộc là phạt tiền, mà những đối tượng này là con nghiện, mua bán lấy tiền để sử dụng ma túy nên không có tài sản và hầu hết chưa có gia đình dẫn đến việc thi hành án khó thực hiện. Ngoài ra, còn trường hợp một số đối tượng thi hành án bỏ khỏi nơi cư trú nên không tìm được. Vì thế,  cần phải có giải pháp để việc thi hành án được thuận tiện, nhanh chóng, và đạt kết quả cao hơn.

 Công tác thi hành án dân sự nên giao lại cho Toàn án

Đại biểu Trần Văn Độ đang phát biểu thảo luận

Tại dự thảo, Theo Đại biểu Trần Văn Độ (An Giang), tại khoản 43, Điều 1 của Dự thảo Luật chỉ quy định của Tòa Án nhân dân  tối cao, Tòa Án  Nhân dân cấp cao yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự phải thông báo kết quả thi hành án và chỉ trong trường hợp cần thiết là chưa đầy đủ. Nên cần quy định quyền của Tòa án các cấp và kể cả Tòa án quân sự cũng có quyền yêu cầu các cơ quan thi hành án thông báo tiến độ cũng như kết quả thi hành án đối với mọi bản án. Đại biểu Nguyễn Sơn cũng đồng tình với quy định cơ quan thi hành án phải thường xuyên báo cáo về tiến độ kết quả thi hành án. Quy định này tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa án trong việc theo dõi thi hành bản án.

Một số yến kiến khác cũng đồng tình với việc này và đề nghị bổ sung Điều 38 Luật Thi hành án dân sự, trách nhiệm cơ quan thi hành án, gửi quyết định thi hành án cho Tòa án và đáp án quyết định đó ngoài các đương sự, ngoài Viện kiểm sát. Việc này để đảm bảo phục vụ cho hoạt động hiệu quả và phối hợp giữa các cơ quan, báo cáo với Quốc hội.

ĐB Phạm Xuân Thường (Thái Bình) cũng đề nghị Quốc hội giao lại công tác thi hành án dân sự cho TAND như trước năm 1994 để tránh cắt khúc tố tụng, thiếu sự chặt chẽ giữa Toà án và cơ quan thi hành án dân sự, dẫn đến thi hành án kém hiệu quả và án tồn đọng sẽ tăng lên. Việc trả lại chức năng này cho Tòa án sẽ hài hòa, gắn trách nhiệm của cán bộ Tòa án với công tác thi hành án dân sự, các vụ án sẽ được giải quyết nhanh gọn hơn, đảm bảo thời gian và đảm bảo được hiệu quả.

 

 

Continue Reading

Trụ sở Bộ ngành di dời vẫn tiếp tục ôm đất trụ sở cũ

Luật Thủ đô và Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đã xác định yêu cầu phải giảm mật độ dân cư trong nội đô lịch sử và phải bàn giao các phần đất trụ sở bộ ngành sau di dời cho thành phố để xây dựng các công trình công cộng, cây xanh. Tuy nhiên, thực tế nhiều bộ ngành sau di dời đến trụ sở mới hoành tráng vẫn tiếp tục “ôm” đất trụ sở cũ.

Trụ sở mới của Bộ Khoa học & Công nghệ (KH-CN) là một tòa nhà cao 13 tầng, được xây dựng trên khu đất có tổng diện tích 1,8ha, nằm tại 113 Trần Duy Hưng ( Quận Cầu Giấy). Đến cuối năm 2011 công trình này được hoàn thành và đưa vào sử dụng. So với trụ sở cũ tại số 39 Trần Hưng Đạo (quận Hoàn Kiếm) chỉ có quỹ đất 0,15ha, quy mô 4 tầng thì trụ sở mới có diện tích đất gấp 12 lần chỗ cũ. Đó là chưa kể số tầng gấp 3 lần trụ sở cũ lên 13 tầng.

Trụ sở Bộ ngành di dời vẫn tiếp tục ôm đất trụ sở cũ

Trụ sở cũ của TN-MT

Tuy nhiên, theo đại diện của bộ KH-CN thì như vậy vẫn chưa đủ để các cán bộ và nhân viên làm việc, họ cho biết: Dự án xây dựng trụ sở mới của Bộ bắt đầu triển khai từ những năm 2000 nhưng đến tận cuối năm 2011 mới đưa vào sử dụng. Trong thời gian đó, bộ máy nhân sự của các đơn vị đã phát triển thêm.

Từ tháng 5/2012, Bộ TN&MT chuyển sang trụ sở mới tọa lạc tại số 10, Tôn Thất Thuyết (quận Cầu Giấy). Trụ sở này có quy mô 1,3ha gấp gần bốn lần so với trụ sở cũ ở số 83 Nguyễn Chí Thanh (quận Đống Đa). Dự án được khởi công xây dựng vào ngày 10/2/2009 với kinh phí đầu tư trên 350 tỷ đồng. Tuy nhiên, cũng như bên đại diện của bộ KH- CN, ông Bùi Tăng Cường chánh văn phòng Bộ TN và MT thì trụ sở mới vẫn không đáp ứng được nhu cầu làm việc của cán bộ và nhân viên.

Giải thích cho việc “không đáp ứng được nhu cầu”, ông Cường cho biết do số lượng công nhân viên quá lớn, cùng với đó là sự lớn lên của ngành TNMT, vì vậy vẫn phải giữ lại trụ sở cũ.

Cũng một trường hợp tương tự, Đại diện Thanh tra Chính phủ cho biết, trong thời gian chưa xây dựng được khu chung cư cao tầng tại trụ sở cũ 220 Đội Cấn quận Ba Đình thì Thanh tra Chính phủ giao cho một số cơ quan trực thuộc quản lý sử dụng. Sắp tới khi xây dựng lại trụ sở của Ban tiếp công dân Trung ương thì cũng sẽ sử dụng trụ sở cũ để bố trí tạm cho cơ quan này làm việc.

KTS Đào Ngọc Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội quy hoạch và phát triển đô thị Hà Nội cho biết đến nay chính phủ vẫn chưa có quyết định về việc bộ ngành phải di dời khỏi trụ sở cũ và bàn giao nhà đất cho thành phố. Ông khẳng định: Di dời đến trụ sở mới nhưng không bàn giao trụ sở cũ, thậm chí lại biến thành khu căn hộ cao tầng thì không đúng với Luật Thủ đô và không theo Quy hoạch chung do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Đối với trường hợp như Thanh tra Chính phủ lập dự án xây nhà chung cư tại trụ sở cũ trên đường Đội Cấn, theo ông Đào Ngọc Nghiêm là việc hoàn toàn không phù hợp. Trong khi quận Ba Đình đang phải giảm dân số thì việc xây dựng khu chung cư tại đây lại đi ngược chủ trương này.

Trong báo cáo gửi Thủ tướng Chính phủ vào tháng 10/2014, UBND thành phố Hà Nội khẳng định: Hiện nay trên địa bàn thành phố có nhiều trụ sở của các bộ ngành trung ương đóng trên địa bàn đang thực hiện sắp xếp, di dời theo Quyết định 09 của Thủ tướng Chính phủ. Các diện tích đất sau khi di dời vừa qua phần lớn được đầu tư các công trình nhà ở, trung tâm thương mại, do đó ảnh hưởng rất lớn đến Quy hoạch chung Thủ đô. Nguồn thu tiền sử dụng đất các dự án này được dùng để đầu tư trở lại cho các bộ ngành là chưa phù hợp với quy định của Luật Ngân sách nhà nước và Điều 15 Luật Thủ đô.

 

 

 

 

Continue Reading

Khai mạc phiên họp khóa 69 của Đại hội đồng Liên hợp Quốc

Với vai trò Chủ tịch Hội đồng Thống đốc IAEA nhiệm kỳ 2013-2014, Việt Nam đã có những đóng góp tích cực trong việc thực hiện các nhiệm vụ của IAEA.

Ngày 3/11, tại trụ sở chính của Liên Hợp Quốc ở New York (Mỹ), Đại hội đồng Liên Hợp Quốc khóa 69 đã họp phiên toàn thể để thảo luận và thông qua nghị quyết về “Báo cáo của cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế IAEA”

Đại sứ Nguyễn Phương Nga phát biểu tại phiên họp

Đại sứ Nguyễn Phương Nga phát biểu tại phiên họp

Vai trò và nỗ lực của IAEA trong việc đảm bảo an ninh, an toàn hạt nhân cũng như hỗ trợ hơn 30 nước thành viên, trong đó có Việt Nam, chuẩn bị các cơ sở hạ tầng cần thiết cho việc xây dựng các nhà máy năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình được Đại sứ Nguyễn Phương Nga – trưởng Phái đoàn Đại diện thường trực Việt Nam đánh giá cao tại phiên họp.

Đại sứ khẳng định, với vai trò Chủ tịch Hội đồng Thống đốc IAEA nhiệm kỳ 2013-2014, Việt Nam đã có những đóng góp tích cực trong việc thực hiện các nhiệm vụ của IAEA. Việt Nam ủng hộ sử dụng năng lượng và công nghệ hạt nhân vì mục đích hòa bình phục vụ phát triển. Đồng thời, nhấn mạnh việc các nước phải tuân thủ triệt để nghĩa vụ Quốc tế, đặc biệt là các tiêu chuẩn đảm bảo an ninh, an toàn hạt nhân.

Bên cạnh đó, đại diện của 28 nước và Liên minh Châu Âu (EU) cũng đánh giá cao vai trò của IAEA. IAEA đã làm rất tốt vai trò của mình trong kiểm chứng an ninh, an toàn hạt nhân; chuyển giao và ứng dụng công nghệ hạt nhân vì mục đích hòa bình, …Và khẳng định các thành viên IAEU đều có quyền sử dụng năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình chính đáng theo quy định Quốc tế và các chuẩn mực an toàn của IAEA.

Kết thúc phiên họp, Đại sứ Nguyễn Phương Nga cảm ơn các nước thành viên cũng như các đối tác quốc tế và IAEA đã hợp tác, hỗ trợ để Việt Nam đảm nhiệm tốt vai trò là Chủ tịch Hội đồng Thống đốc IAEA nhiệm kỳ 2013-2014.

 

Continue Reading

Việt Nam- Lào hợp tác xây dựng đường biên giới giai đoạn 2014-2016

Sáng ngày 3/11, tại tỉnh Khammuan ( trung lào) Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Ủy ban Trung ương Mặt Trận Lào xây dựng đất nước  phối hợp tổ chức Hội nghị quốc tế về xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị giữa hai nước.

Việt Nam- Lào hợp tác xây dựng đường biên giới giai đoạn 2014-2016

Việt Nam- Lào hợp tác xây dựng đường biên giới giai đoạn 2014-2016

Tham dự Hội nghị có đồng chí Phanduangchith Vongsa, Ủy viên Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Lào xây dựng đất nước; Đồng chí Vũ Trọng Kim, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Uỷ ban MTTQ Việt Nam, Chủ tịch Hội hữu nghị Việt – Lào; đại diện lãnh đạo Ban Đối ngoại Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, đại diện Đại sứ quán Việt Nam tại Lào, cùng đại diện các ngành liên quan hai nước, các Chủ tịch, Phó Chủ tịch Mặt trận 10 tỉnh có chung đường biên giới của hai nước Việt Nam và Lào.

Hội nghị nhận định và đánh giá cao tình đoàn kết hữu nghị giữa hai nước. Với sự hợp tác trên nhiều lĩnh vực, trong suốt thời gian qua Mặt trận tổ quốc Việt Nam và mặt trận lào xây dựng đất nước  đã ngày càng được củng cố và phát triển.  Đặc biệt hai bên đã phối hợp vận động nhân dân các địa phương có chung đường biên giới đoàn kết, hợp tác xây dựng giữ gìn trật tự đường biên đạt được nhiều kết quả tích cực.

toàn cảnh hội nghị

toàn cảnh hội nghị

Hai bên tiếp tục thống nhất phương hướng, nhiệm vụ phối hợp xây dựng đường biên giới hoà bình, hữu nghị Việt Nam – Lào (giai đoạn 2014-2016) với 6 nội dung trọng tâm,  trong đó nhấn mạnh thường xuyên tuyên truyền sâu rộng, nâng cao nhận thức trong các tầng lớp nhân dân, nhất là nhân dân vùng biên giới hai nước về đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của hai Đảng, hai Nhà nước, giúp người dân hiểu hơn về quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào để cùng nhau gìn giữ bảo vệ biên giới vững bền

Hai bên phối hợp rất chặt chẽ với Ban Biên giới Bộ Ngoại giao, Bộ Tư lệnh Biên phòng, Hôi Cựu Chiến binh, Hội Liên hiệp phụ nữ và các tổ chức ban, ngành hai nước nên công tác an ninh quốc phòng, phòng chống tội phạm, buôn bán ma túy, bảo vệ môi trường đạt kết quả tốt, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển, thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo của hai Đảng và hai nhà nước.

Bên cạnh đó, hội nghị cũng đã nêu một số khó khăn tồn tại cần giải quyết và tập trung thảo luận phương hướng nhiệm vụ xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị giữa hai nước giai đoạn 2014-2016.

Phát biểu tại Hội nghị, đồng chí Vũ Trọng Kim, Phó Chủ tịch, Tổng thư ký UBTWMTTQ Việt Nam nhấn mạnh: “Tôi tin tưởng rằng chuyến thăm hữu nghị nước CHDCND Lào và Hội nghị của hai Đoàn đại biểu cấp cao của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Mặt trận Lào Xây dựng đất nước sẽ góp phần củng cố và phát triển thêm một bước tình hữu nghị đặc biệt giữa nhân dân hai nước Việt Nam – Lào”

 

Continue Reading

Chủ tịch nước gặp mặt học sinh dân tộc thiểu số tiêu biểu

Chiều  ngày 01/11/2014,  đại diện cho 111 học sinh dân tộc thiểu số đoạt giải và đạt điểm cao trong cuộc thi học sinh giỏi cấp quốc gia cũng như kỳ thi tuyển sinh Đại Học, 78 em học sinh dân tộc thiểu số tiêu biểu đã vinh dự được gặp mặt Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tại Phủ Chủ tịch.

 

Chủ tịch nước gặp mặt học sinh dân tộc thiểu số tiêu biểu

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và các em học sinh dân tộc thiểu số tiêu biểu

Tại buổi gặp mặt Chủ tịch nước, ông Nguyễn Đắc Vinh – Bí thư Trung Ương Đoàn Thanh Niên Cộng sản Hồ Chí Minh cho hay, chất lượng giáo dục toàn diện cũng như công tác giáo dục mũi nhọn đối với học sinh dân tộc thiểu số không ngừng được cải thiện và nâng cao trong những năm gần đây. Trong các cuộc thi học sinh giỏi cấp tỉnh, cấp quốc gia cũng đã có học sinh dân tộc thiểu số đạt giải cao.

Cụ thể, có tất cả 85 học sinh dân tộc thiểu số đạt giải trong kỳ thi học sinh giỏi cấp quốc gia năm 2014. Trong đó, có 1 giải nhất, 11 giải nhì, 32 giải ba và 41 em đạt giải khuyến khích. Trong kỳ thi tuyển sinh Đại học, Cao đẳng cũng có nhiều em đạt điểm cao và trở thành thủ khoa. Những học sinh dân tộc thiểu số tiêu biểu  này rất đáng được tuyên dương, khen thưởng bởi tinh thần vượt khó vươn lên trong học tập, là tấm gương sáng cho những em khác noi theo.

Trong buổi gặp mặt tại Phủ Chủ tịch, các em học sinh dân tộc thiểu số chia sẻ, tại các vùng miền núi, điều kiện kinh tế còn hạn chế, nhiều nơi vẫn chưa có điện, đường đi lại khó khăn, môi trường học tập chỉ được xây dựng bằng tường nan, vách đất…; đồng thời các em cũng mong muốn Đảng và Nhà nước quan tâm hơn nữa đến cuộc sống nơi vùng sâu, vùng xa.

Phát biểu tại buổi gặp mặt, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang rất hoan nghênh Uỷ ban Dân tộc và Thông tấn xã Việt Nam cũng như các bộ ngành đã có sáng kiến tổ chức tuyên dương các em học sinh. Chúc mừng và biểu dương các em học sinh đạt giải cao trong học tập. Đồng thời, Chủ tịch nước mong rằng các em học sinh dân tộc thiểu số sẽ cố gắng nỗ lực hơn nữa để vượt lên khó khăn, trở thành nguồn nhân lực quan trọng trong sự phát triển của các địa phương –  nơi các em sinh ra, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng Tổ quốc.

 

Continue Reading

Bộ Tư pháp ký thỏa thuận hợp tác với Cơ quan phụ nữ của LHQ

(Công lý) – Bộ Tư pháp đã ký thỏa thuận hợp tác với Cơ quan phụ nữ của Liên Hợp Quốc (UN Women) nhằm nâng cao năng lực của cán bộ tư pháp trong phòng chống bạo lực đối với phụ nữ.

Đại diện Bộ Tư pháp và UN Women Việt Nam ký kết Thư thỏa thuận tại buổi lễ diễn ra sáng 30/10

Tham gia dự Lễ ký kết có các đại diện của Vụ Pháp luật hình sự – hành chính, Học viện Tư pháp, các cơ quan thực hiện Dự án, các đơn vị liên quan của Bộ Tư pháp và các đại biểu của UN Women tại Việt Nam.

Bà Đặng Hoàng Oanh, Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tư pháp và bà Shoko Ishikawa, Trưởng Đại diện UN Women tại Việt Nam đã đại diện ký kết Thư thỏa thuận mang tên “Tăng cường hệ thống tư pháp thông qua tăng cường năng lực và đánh giá pháp luật liên quan tới phòng, chống bạo lực đối với phụ nữ”. Đây là Thư thỏa thuận giữa Bộ Tư pháp và Cơ quan của Liên hợp quốc về bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ.

Phát biểu tại Lễ ký kết, Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế Đặng Hoàng Oanh nêu rõ: “Đây là Dự án có ý nghĩa quan trọng, sẽ góp phần tăng cường xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam liên quan đến phòng, chống bạo lực gia đình trên cơ sở giới, góp phần hướng tới hoàn thành mục tiêu, chỉ tiêu đã được đề ra trong Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2020 và các khuyến nghị quốc tế về thực thi Công ước quốc tế của Liên hợp quốc về loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ (Công ước CEDAW)”.

Bà Shoko Ishikawa, Trưởng Đại diện UN Women tại Việt Nam nhấn mạnh: “Bộ Tư pháp và UN Women ký thỏa thuận hợp tác này dựa trên việc thừa nhận những khó khăn, thách thức mà nạn nhân của bạo lực đối với phụ nữ gặp phải trong tiếp cận công lý, UN Women sẽ hỗ trợ Bộ Tư pháp củng cố Luật Hình sự và Luật Tố tụng hình sự, tập trung vào bạo lực đối với phụ nữ và nâng cao năng lực của cán bộ tư pháp, trong giải quyết các vụ việc liên quan tới bạo lực đối với phụ nữ, thông qua việc hợp tác với Học viện Tư pháp”.

Đây được coi là sự kiện quan trọng, đánh dấu sự cam kết của Bọ Tư pháp trong việc thực thi đầy đủ quyền của phụ nữ trong lĩnh vực tư pháp.

Dự án “Tăng cường hệ thống tư pháp thông qua tăng cường năng lực và đánh giá pháp luật liên quan tới phòng, chống bạo lực đối với phụ nữ” đã được Bộ trưởng Bộ Tư pháp phê duyệt tại Quyết định số 2890/QĐ – BTP ngày 29 tháng 10 năm 2014. Dự án được tài trợ bởi Bộ Ngoại giao, Thương mại và Phát triển Canada và hỗ trợ kỹ thuật từ UN Women Việt Nam. Đây là một trong những nỗ lực của UN Women và các đối tác nhằm thúc đẩy việc lồng ghép giới trong sửa đổi và xây dựng luật tại Việt Nam.

Thu Vân

 

Continue Reading

Chính phủ chỉ đạo NHNN tiếp tục lộ trình xử lý nợ xấu

(Công lý) – Trong phiên họp, Chính phủ dành nhiều thời gian thảo luận về tình hình thực hiện ngân sách Nhà nước, trong đó tập trung vào vấn đề nợ công và cơ cấu thu chi ngân sách, việc giải quyết nợ xấu… yêu cầu Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đưa nợ xấu xuống dưới 3%.

Thêm hành lang pháp lý để xử lý nợ xấu

Tại buổi họp báo Chính phủ  thường kỳ tháng 10 diễn ra ngày 29/10, về triển khai các biện pháp xử lý nợ xấu, theo Bộ trưởng Nguyễn Văn Văn Nên, Chính phủ chỉ đạo NHNN tiếp tục lộ trình xử lý nợ xấu, giảm nợ xấu từ mức 5,43% tính đến giữa tháng 9/2014, xuống còn dưới 3% vào cuối năm 2015 như mục tiêu đã đề ra. Chính phủ cũng sẽ sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật liên quan để tạo hành lang pháp lý và công cụ cho Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) làm tốt hơn việc xử lý nợ xấu, không dùng ngân sách Nhà nước để xử lý nợ xấu.

 

 

Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Văn Nên

 

Về câu hỏi của báo giới xung quanh đánh giá của một đại biểu Quốc hội cho rằng, nợ xấu xử lý qua VAMC còn chậm, lãi suất cho vay hiện còn cao, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Thị Hồng cho biết, ý kiến của đại biểu Quốc hội luôn được lắng nghe và bất kỳ ý kiến nào của đại biểu, NHNN đều có báo cáo làm rõ thêm vấn đề đại biểu quan tâm. NHNN cũng đã có báo cáo Quốc hội về hoạt động tiền tệ NH trong thời gian vừa qua.

Về vấn đề nợ xấu, Phó Thống đốc Nguyễn Thị Hồng cho biết thêm, trên thực tế nợ xấu là kết quả phát sinh từ nhiều năm và khi Chính phủ có chủ trương tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) thì nợ xấu là trọng tâm cần xử lý. NHNN cũng đã phối hợp với các cơ quan liên quan để thực hiện tái cơ cấu TCTD và có xử lý nợ xấu, trong đó có thành lập VAMC. Những khó khăn vướng mắc của VAMC đang được NHNN phối hợp với các bộ, ngành để tiếp tục tháo gỡ. Đặc biệt là vướng mắc liên quan đến pháp lý khiến khó khăn cho xử lý nợ xấu.

NHNN đang trình Chính phủ ban hành Nghị định 53 (sửa đổi) để tăng quyền năng, tăng vốn cho VAMC, tạo khả năng mua bán nợ xấu theo giá thị trường… Đồng thời, NHNN cũng đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội tháo gỡ khó khăn qua các dự án luật (sửa đổi, bổ sung) để xử lý được nợ xấu như Luật Nhà ở (tạo điều kiện cho người nước ngoài mua nhà); Luật Kinh doanh bất động sản theo hướng cho phép chuyển nhượng dự án BĐS; Luật Doanh nghiệp (DN) thì tăng khả năng minh bạch cho xử lý nợ xấu. Với cố gắng như vậy, hệ thống NH cũng mong muốn từ phía DN có đánh giá rà soát lại hoạt động kinh doanh, tăng khả năng trả nợ, kiểm soát dòng tiền.

Về lãi suất, bà Nguyễn Thị Hồng cho biết, vào đầu năm 2011 lãi suất cho vay ở mức rất cao, trên 20%/năm, nhưng bằng các giải pháp điều hành của NHNN hiện nay lãi suất cho vay ngắn hạn lĩnh vực ưu tiên giảm còn 7%/năm và theo chỉ đạo của Thống đốc thì cho vay trung dài hạn tối đa không vượt quá 10%/năm.

Phát hành trái phiếu ở các dự án lớn

Làm rõ hơn về vấn đề thu chi ngân sách, theo Bộ trưởng Nguyễn Văn Nên, trước mắt, nếu như cứ tính toán gói ghém thì vẫn đảm bảo thu chi ổn định nhưng như vậy lại ảnh hưởng đến việc đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

Vì thế, khi đặt ra vấn đề thu chi ngân sách phải tính đến các mục tiêu trung và dài hạn. Cần phải có nguồn vốn cần thiết cho mục tiêu tiêu đầu tư và 1 trong 3 nhiệm vụ đột phá là đầu tư kết cấu hạ tầng. Trong đó, đầu tư kết cấu hạ tầng nặng nhất là đường giao thông. Hiện nay, chúng ta đang triển khai nhiều dự án lớn như quốc lộ 1, quốc lộ 4… “Việc Chính phủ phát hành trái phiếu Chính phủ là cần thiết để có điều kiện huy động vốn đầu tư trung và dài hạn cho những dự án lớn”, Bộ trưởng Nguyễn Văn Nên bày tỏ quan điểm.

Trong bối cảnh dư luận lo ngại về việc nợ công và bội chi ngân sách tăng, Bộ trưởng Nguyễn Văn Nên nêu rõ, nguyên tắc của việc huy động vốn cho đầu tư phát triển là phải nằm trong giới hạn cho phép và được Quốc hội thông qua.

“Hằng năm, Chính phủ đều có tính toán, cân đối để có nguồn đầu tư phát triển. Trên cơ sở đó, Chính phủ xin chủ trương Quốc hội cho phép phát hành trái phiếu để tính toán cho đầu tư, trong đó có đầu tư kết cấu hạ tầng. Đây là việc làm cần thiết để đất nước có điều kiện phát triển. Tuy nhiên, nguyên tắc sử dụng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ là chỉ sử dụng cho đầu tư mà không sử dụng cho lĩnh vực khác”, Bộ trưởng Nguyễn Văn Nên khẳng định.

Thu Hường

Continue Reading

Chính phủ đặt mục tiêu năm 2015 tỷ lệ nợ xấu chỉ còn 3%

(Công lý) – Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đề nghị các thành viên Chính phủ tập trung thảo luận hình kinh tế xã hội, làm rõ một số vấn đề liên quan đến nợ công, cơ cấu thu chi ngân sách, nợ xấu và giải pháp kiểm soát để đạt được mục tiêu đến năm 2015 nợ xấu chỉ còn 3%.

Dưới sự chủ trì của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, sáng nay 29/10, Chính phủ họp phiên thường kỳ tháng 10/2014.

Tại phiên họp, Chính phủ nghe báo cáo và thảo luận về tình hình kinh tế-xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2014; dự thảo Nghị định của Chính phủ về chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số gắn với bảo vệ rừng; dự thảo Nghị định của Chính phủ về dịch vụ sự nghiệp công và cơ chế hoạt động của sự nghiệp công lập; Báo cáo Đề án Mô hình chính quyền địa phương; dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về du lịch…

Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư được trình bày tại phiên họp cho thấy, trong 10 tháng đầu năm, các bộ, ngành, địa phương đã tích cực triển khai các Nghị quyết của Quốc hội, Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 02/01/2014 của Chính phủ, các Nghị quyết phiên họp thường kỳ của Chính phủ, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và tiếp tục đạt được nhiều kết quả tích cực. Nền kinh tế tiếp tục đà phục hồi trong tất cả các ngành, lĩnh vực chủ yếu với mức tăng trưởng GDP cao hơn cùng kỳ hai năm trước. Sản xuất công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến, chế tạo tăng trưởng cao hơn nhiều so cùng kỳ; sản xuất nông nghiệp đạt kết quả khá, năng suất và sản lượng lúa hè thu tăng cao so cùng kỳ; xuất khẩu duy trì đà tăng trưởng cao, tiếp tục có xuất siêu; xuất khẩu khu vực doanh nghiệp 100% vốn trong nước cải thiện đáng kể với tốc độ tăng trưởng cao hơn nhiều so với cùng kỳ và đạt xấp xỉ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài; khách quốc tế đến Việt Nam tăng so với cùng kỳ.

Lạm phát được kiểm soát, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng thấp, so với tháng 12/2013, chỉ số giá tiêu dùng tháng 10 có mức tăng thấp nhất so với cùng kỳ 11 năm qua. Lãi suất, tỷ giá, thị trường ngoại hối ổn định. Giải ngân vốn ODA và vay ưu đãi đạt khá ; thu hút vốn FDI tiếp tục có những chuyển biến tích cực. Tiến độ thu NSNN đạt cao hơn cùng kỳ các năm trước, bảo đảm các nhu cầu chi của NSNN. An sinh xã hội tiếp tục được bảo đảm; an ninh chính trị, trật tự xã hội được giữ vững; công tác bảo đảm an toàn giao thông đạt nhiều kết quả tích cực .

Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt được, Báo cáo cũng nêu rõ những hạn chế của nền kinh tế, trong đó có: hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn, số doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động vẫn còn ở mức cao; tăng trưởng tín dụng tuy đã có những cải thiện nhưng vẫn ở mức thấp; tổng mức bán lẻ có chuyển biến nhưng chậm; ở một số địa phương, tình trạng cháy rừng vẫn còn diễn biến phức tạp…

Phát biểu khai mạc phiên họp, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đề nghị các thành viên Chính phủ tập trung thảo luận hình kinh tế xã hội, làm rõ một số vấn đề nổi lên là liên quan đến nợ công, cơ cấu thu chi ngân sách, nợ xấu và giải pháp kiểm soát để đạt được mục tiêu đến năm 2015 nợ xấu chỉ còn 3%; các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho danh nghiệp phục hồi sản xuất kinh doanh…

Về vấn đề nợ công, Thủ tướng đề nghị các thành viên chính phủ phải làm rõ 2 nội dung quan trọng đó là tính hiệu quả trong sử dụng các nguồn vốn vay và khả năng trả nợ đi đôi với thực hiện mục tiêu kiểm soát nợ công trong những năm tiếp theo. Cùng với nợ công, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lưu ý các thành viên Chính phủ phân tích thêm về thu, chi ngân sách, tập trung làm rõ cơ cấu chi trong đó có chi thường xuyên, chi đầu tư từ ngân sách và chi cho trả nợ và viện trợ; đề ra giải pháp, lộ trình mục tiêu để điều chỉnh cơ cấu chi ngân sách hợp lý hơn trong thời gian tới.

Liên quan đến xử lý nợ xấu, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng đây là vấn đề đã được Chính phủ thảo luận nhiều, ngay từ đầu năm Chính phủ đã thực hiện quyết liệt chủ trương tái cơ cấu ngân hàng gắn với xử lý nợ xấu. Trên cơ sở này, Chính phủ đặt ra mục tiêu năm 2015 tỷ lệ nợ xấu chỉ còn 3%; yêu cầu các thành viên Chính phủ làm rõ tiêu chí để tính tỷ lệ nợ xấu, từ đó kiến nghị giải pháp, lộ trình thực hiện 1 cách vững chắc mục tiêu này.

Nhấn mạnh một vấn đề nổi lên thời gian qua đó là tình hình sản xuất kinh doanh còn khó khăn, số lượng doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động còn lớn, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đề nghị các bộ, ngành báo cáo cụ thể tình hình doanh nghiệp trong 10 tháng qua gắn với những khó khăn, thách thức mà các doanh nghiệp đang phải đối mặt cũng như đề xuất các giải pháp tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh trong thời gian tới.

Thiện Thuật

Continue Reading

Xây dựng Cảng hàng không quốc tế Long Thành có quy mô lớn trong khu vực

(Công lý) – Sáng 29/10, các ĐBQH thảo luận tại Hội trường nghe Tờ trình Báo cáo đầu tư dự án đầu tư xây dựng Cảng hàng không quốc tế Long Thành; thảo luận các nội dung còn ý kiến khác nhau của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật hàng không dân dụng VN.

Đầu tư xây dựng Cảng hàng không quốc tế Long Thành là cần thiết

Tờ trình Báo cáo đầu tư dự án đầu tư xây dựng Cảng hàng không quốc tế Long Thành do Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Đinh La Thăng trình bày nêu rõ: Việc đầu tư xây dựng Cảng hàng không quốc tế Long Thành là cần thiết, vì sẽ hình thành và phát triển một cảng hàng không quốc tế trung chuyển có quy mô tầm cỡ trong khu vực nhằm phục vụ Chiến lược phát triển vận tải hàng không Việt Nam. Bộ trưởng nhấn mạnh, cùng với xu hướng phát triển của hàng không quốc tế, với lợi thế về vị trí địa lý và tiềm năng phát triển giao thông hàng không, nước ta cũng cần sớm hình thành một cảng hàng không quốc tế đóng vai trò trung tâm trung chuyển trong khu vực là một nhu cầu thực tế và mang tính chiến lược phát triển. Hơn nữa việc xây dựng Cảng hàng không quốc tế Long Thành đáp ứng nhu cầu vận tải hàng không khi Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất đạt công suất thiết kế và trở nên quá tải.

Đại biểu Quốc hội  TP. Hồ Chí Minh Trần Du Lịch phát biểu ý kiến. Ảnh: TTXVN   

Báo cáo nêu rõ: Việc lựa chọn vị trí quy hoạch và xây dựng Cảng hàng không quốc tế Long Thành đã được các cơ quan chuyên môn của ngành hàng không dân dụng nghiên cứu kỹ lưỡng từ năm 1993. Bên cạnh đó, các quy hoạch kinh tế – xã hội, quy hoạch xây dựng, quy hoạch sử dụng đất và các quy hoạch chuyên ngành khác đã được phê duyệt cũng đồng bộ với việc hình thành nên cảng hàng không Quốc tế Long Thành. Nhiều công trình quy hoạch đã được triển khai đầu tư, nhất là các tuyến giao thông tạo điều kiện kết nối thuận tiện giữa Cảng hàng không quốc tế Long Thành với Thành phố Hồ Chí Minh và các vùng lân cận .

Bộ trưởng cho biết, mục tiêu đầu tư xây dựng Cảng hàng không quốc tế Long Thành từng bước đạt cấp 4F (theo phân cấp của ICAO); giữ vai trò là Cảng hàng không quốc tế cửa ngõ lớn và quan trọng bậc nhất của quốc gia, dự kiến trong tương lai sẽ trở thành một trong những trung tâm trung chuyển vận tải hàng không tại khu vực Đông Nam Á.

Toàn bộ Dự án dự kiến chia thành 03 giai đoạn. Giai đoạn 1: Đầu tư nhà ga hành khách công suất 25 triệu khách/năm, nhà ga hàng hóa công suất 1,2 triệu tấn hàng hóa/năm, 02 đường cất hạ cánh song song có cấu hình đóng, nhằm chia sẻ sự quá tải cho Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất. Trong đó g iai đoạn 1a: Xây dựng nhà ga chính có 01 nhánh trung tâm, 01 đường cất hạ cánh đáp ứng lượng hành khách 17 triệu khách/năm, mở cửa vào năm 2023; giai đoạn 1b: Xây dựng hai cánh còn lại của nhà ga chính trung tâm và đường cất hạ cánh thứ hai, mở cửa vào năm 2025. Giai đoạn 2: Nhà ga hành khách công suất 50 triệu khách/năm, nhà ga hàng hóa công suất 1,5 triệu tấn hàng hóa/năm, thêm một đường cất hạ cánh, mở cửa vào năm 2030. Giai đoạn sau cùng: Nhà ga hành khách đạt công suất 100 triệu khách/năm, nhà ga hàng hóa công suất 5,0 triệu tấn hàng hóa/năm, 04 đường cất hạ cánh.

Khái toán tổng mức đầu tư giai đoạn 1 của Dự án khoảng 7,837 tỷ USD ( tương đương 164.5 89 tỷ đồng), trong đó, phân kỳ giai đoạn 1a có tổng mức đầu tư khoảng 5,662 tỷ USD (tương đương 118.910 tỷ đồng).

Cơ cấu nguồn vốn: Dự kiến vốn nhà nước (vốn ngân sách, trái phiếu Chính phủ, ODA…) giai đoạn 1 là 84.624 tỷ đồng. Trong đó, giai đoạn 1a là 57.857,7 tỷ đồng (khoảng 48,65% khái toán tổng mức đầu tư). Vốn huy động khu vực ngoài nhà nước (vốn doanh nghiệp, cổ phần, liên doanh liên kết, hợp tác công tư) là 79.965 tỷ đồng. Trong đó, giai đoạn 1a là 61.052,6 tỷ đồng (51,35% khái toán tổng mức đầu tư).

Thẩm tra Báo cáo đầu tư dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành, Ủy ban Kinh tế của Quốc hội đánh giá dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành đáp ứng tiêu chí là dự án quan trọng quốc gia; tán thành chủ trương của Đảng và Nhà nước nước ta cần có một Cảng hàng không quốc tế hiện đại đáp ứng nhu cầu vận tải hàng không, góp phần phát triển kinh tế – xã hội và gắn với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Tuy nhiên cũng có ý kiến đề nghị làm rõ tính cấp thiết hay là tính cần thiết của việc đầu tư Cảng hàng không quốc tế Long Thành, nếu chưa cấp thiết thì cân nhắc thời điểm đầu tư thích hợp.

Báo cáo đầu tư dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành với tổng mức đầu tư giai đoạn 1 khoảng 164.589 tỷ đồng (tương đương 7,8 tỷ USD), trong đó: Vốn nhà nước bao gồm ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ và ODA là 84.624 tỷ đồng, vốn khác là 79.965 tỷ đồng. Ủy ban Kinh tế cho rằng, đây mới là vốn đầu tư của giai đoạn 1 của dự án, nếu tính cả 3 giai đoạn thì tổng mức đầu tư sẽ rất lớn (khoảng 18,7 tỷ USD). Mặt khác, dự toán mức đầu tư cho giai đoạn 1 là ước tính, mức độ chính xác chưa cao. Ngoài ra, các dự án thuộc hệ thống hạ tầng kết nối với Cảng hàng không quốc tế Long Thành cần được tính toán, cân đối cùng với tổng vốn đầu tư Cảng hàng không này.

Về phương án huy động vốn: Việc đầu tư xây dựng Cảng hàng không quốc tế Long Thành sử dụng nguồn vốn nhà nước, vốn vay trong bối cảnh nợ công tăng nhanh và ngân sách nhà nước khó khăn thì chưa bảo đảm tính khả thi. Mặt khác, nếu khả năng vay được từ nguồn của các tổ chức tài chính quốc tế thì cũng phải có sự bảo lãnh của Chính phủ. Có ý kiến đề nghị về huy động vốn cần quán triệt Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 16/1/2012 của Ban chấp hành Trung ương, theo đó, huy động vốn ODA và khuyến khích hợp tác công tư.

Khắc phục tình trạng chậm chuyến, hủy chuyến trong vận chuyển hàng không dân dụng

Thời gian còn lại của phiên làm việc sáng nay, các đại biểu Quốc hội thảo luận các nội dung còn ý kiến khác nhau của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam.

Qua thảo luận, nhiều ý kiến đề nghị cần bổ sung quy định các biện pháp nhằm khắc phục tình trạng chậm chuyến, hủy chuyến trong vận chuyển hàng không dân dụng. Theo đại biểu Quốc hội, việc chậm chuyến, hủy chuyến trong vận chuyển hàng không dân dụng là vi phạm hợp đồng vận chuyển, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của hành khách. Tuy nhiên, Luật hiện hành thiếu quy định ràng buộc trách nhiệm của doanh nghiệp vận chuyển trong việc bảo đảm thực hiện các điều kiện vận chuyển, việc d uy trì chất lượng tối thiểu của dịch vụ, thiếu các quy định về tiêu chuẩn tối thiểu mà doanh nghiệp phải bảo đảm cho hành khách.

Dự thảo Luật đã bổ sung quy định về nghĩa vụ của doanh nghiệp kinh doanh vận chuyển hàng không , nghĩa vụ duy trì các điều kiện và chất lượng tối thiểu dịch vụ vận chuyển (khoản 4a Điều 110); bổ sung trách nhiệm của người vận chuyển trong trường hợp chuyến bay bị chậm kéo dài mà không được thông báo trước (khoản 5 Điều 145); giao Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định về thời gian chuyến bay bị chậm kéo dài và chất lượng dịch vụ tối thiểu cho hành khách tại cảng hàng không, sân bay (khoản 5 và khoản 6 Điều 145). Đồng thời, cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành hàng không dân dụng cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp trong trường hợp để xảy ra gián đoạn, chậm chuyến, hủy chuyến bay…

Tuy nhiên, đại biểu Nguyễn Thanh Thụy (Bình Định) cho rằng, cần phải quy định rõ trách nhiệm bồi thường, cơ quan giải quyết khiếu nại đòi bồi thường của khách hàng khi bị chậm, hủy chuyến. Đồng thời, cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành hàng không dân dụng cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp trong trường hợp để xảy ra gián đoạn, chậm chuyến, hủy chuyến bay…

Quan tâm đến giá cả dịch vụ tại sân bay, đại biểu Nguyễn Đức Kiên (Sóc Trăng) đề nghị, phải đấu thầu các dịch vụ tại sân bay để có giá cả phù hợp giá trị trường, “việc Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải ra văn bản chỉ đạo giảm giá dịch vụ chỉ thể hiện được sự quan tâm, nhưng về quản lý nhà nước lại có vấn đề và khó sâu sát cho quyền lợi người tiêu dùng” – đại biểu nhấn mạnh.

Theo một số đại biểu, cần quan tâm nhiều hơn đến công tác phối hợp trong quản lý các sân bay, “không thể để như việc khai thác sân bay Tân Sơn Nhất có quá nhiều bài học đắt giá do yếu kém trong quản lý, phân cấp không rõ ràng, buộc Quốc hội phải xem xét chủ trương đầu tư xây dựng mới cảng hàng không Long Thành để khắc phục” – đại biểu Lê Nam (Thanh Hóa) lưu ý. Đại biểu Trần Du Lịch (TP.Hồ Chí Minh) đề nghị sửa đổi Luật này cần xem xét hai nội dung về phát triển hàng không giá rẻ và phân phối đường bay ngắn.

Quỳnh Hoa

Continue Reading

Ông Lại Xuân Lâm được bầu làm Phó Chủ tịch UBND tỉnh Kon Tum

(Công lý) – Sáng 29/10, HĐND tỉnh Kon Tum khóa X tổ chức kỳ họp bất thường bầu bổ sung chức danh Phó Chủ tịch UBND tỉnh Kon Tum nhiệm kỳ 2011- 2016.

Ông Hà Ban, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Kon Tum tặng hoa chúc mừng ông Lại Xuân Lâm 

Với tỷ lệ gần 88% số phiếu tán thành, ông Lại Xuân Lâm, Ủy viên Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Kon Tum khóa XIV đã được bầu giữ chức danh Phó Chủ tịch UBND tỉnh Kon Tum nhiệm kỳ 2011-2016.

Ông Lại Xuân Lâm sinh năm 1968, tại tỉnh Thái Bình, là Cử nhân kinh tế, Thạc sỹ quản lý giáo dục, nguyên Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng ban Tuyên giáo Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương.

Tại kỳ họp, HĐND tỉnh Kon Tum cũng đã thông qua Đề án công nhận đô thị Măng Đen, huyện Kon Plông đạt tiêu chuẩn đô thị loại V khu vực miền núi; thông qua Đề án điều chỉnh địa giới hành chính các xã: Đăk Long, Đăk Pét và thị trấn Đăk Glei để mở rộng không gian đô thị, thành lập xã mới trên địa bàn huyện Đăk Glei.

Cao Nguyên

Continue Reading