Chánh án TANDTC Trương Hòa Bình gửi thư chúc mừng Trường Cán bộ Tòa án

Bí thư Trung ương Đảng, Chánh án TANDTC Trương Hòa Bình đã có Thư chúc mừng gửi Trường Cán bộ Tòa án nhân kỷ niệm ngày nhà giáo Việt Nam 20/11.

Thư của Chánh án TANDTC Trương Hòa Bình gửi Trường Cán bộ Tòa án

Thư của Chánh án TANDTC Trương Hòa Bình gửi Trường Cán bộ Tòa án

Nhân kỷ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11/2014, thay mặt Ban Cán sự Đảng, tập thể Lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC), tôi xin gửi đến các đồng chí Lãnh đạo Nhà trường, các thành viên Hội đồng Trường, đội ngũ giảng viên, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động đã và đang công tác tại Trường Cán bộ Tòa án qua các thời kỳ, lời chúc sức khỏe, hạnh phúc và đạt nhiều thành tích trong công tác.

Các đồng chí thân mến!

Là một cơ sở bồi dưỡng, đào tạo cán bộ cho hệ thống Tòa án, Trường Cán bộ Tòa án đã trải qua 20 năm xây dựng và phát triển (23/08/1994-23/08/2014). Trong một thời gian không dài, nhưng được sự quan tâm đầu tư, chỉ đạo và chú trọng đúng mức đến việc nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ Tòa án, TANDTC đã xây dựng một số Đề án quan trọng nhằm nâng cao năng lực của Trường, từng bước đưa vị thế, quy mô, chất lượng bồi dưỡng, đào tạo của Trường Cán bộ Tòa án lên một cấp độ mới.

Trong mấy năm vừa qua, Trường Cán bộ Tòa án đã có nhiều cố gắng, nỗ lực, vượt mọi khó khăn, lập nhiều thành tích trong công tác bồi dưỡng, đào tạo cho đội ngũ Lãnh đạo, Thẩm phán, Thư ký, Thẩm tra viên TAND các cấp thông qua các chương trình đào tạo ngắn hạn, trung hạn ở trong và ngoài nước. Thành tích của các đồng chí đã bước đầu góp phần nâng cao chất lượng chuyên môn, trình độ nghiệp vụ của cán bộ Tòa án, góp phần quan trọng vào kết quả hoạt động xét xử và công tác chung của toàn hệ thống TAND. Thay mặt Ban Cán sự Đảng, Lãnh đạo TANDTC, tôi nhiệt liệt biểu dương tập thể cán bộ, công chức, giảng viên của Trường, mong các đồng chí tiếp tục phát huy mặt tích cực, phấn đấu đạt thành tích cao hơn nữa trong sự nghiệp đào tạo, giáo dục của mình.

Xác định chất lượng chuyên môn, phẩm chất đạo đức cán bộ, Thẩm phán có vai trò quyết định đến hiệu quả hoạt động xét xử, thực hiện quyền tư pháp của Tòa án, trong thời gian qua, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành nhiều văn bản về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ: Nghị quyết số 01-NQ/BCS ngày 03/01/2013 của Ban Cán sự Đảng TANDTC; Chỉ thị số 01/2013/CT-TA ngày 05/02/2013 của Chánh án TANDTC về lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm công tác của TAND; Báo cáo của Chánh án TANDTC trước Quốc hội khóa XIII… đã xác định việc Đẩy mạnh công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ Tòa án là một trong ba giải pháp đột phá quan trọng của hệ thống TAND (bao gồm: Nâng cao chất lượng tranh tụng tại Tòa án; đẩy mạnh công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ Tòa án; Đảm bảo áp dụng thống nhất pháp luật).

Hiến pháp năm 2013 đã quy định: “TAND là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến, Hiến pháp quy định TAND là cơ quan thực hiện quyền tư pháp quốc gia trong bộ máy Nhà nước. Triển khai thực hiện các nội dung của Hiến pháp năm 2013, tiếp tục thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị, TANDTC đã xây dựng Luật Tổ chức TAND (sửa đổi) và sẽ được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 8 này. Tiếp đó, Tòa án nhân dân tối cao đang khẩn trương tiến hành các công việc để tổ chức thành lập Tòa án cấp cao; Xây dựng quy chế hoạt động và đề xuất thành lập Hội đồng tuyển chọn và giám sát Thẩm phán quốc gia; Tổng kết thực tiễn thi hành và góp ý kiến xây dựng các Luật Tố tụng Dân sự, Hành chính, Hình sự (sửa đổi)… để thích ứng với các quy định mới của Hiến pháp và Luật Tổ chức TAND (sửa đổi); tiếp tục nghiên cứu, đề xuất các giải pháp để làm tốt công tác tổng kết kinh nghiệm xét xử, đảm bảo áp dụng thống nhất pháp luật và cơ chế tuyển chọn, phát triển án lệ; đồng thời, đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện các thủ tục để cấp có thẩm quyền phê duyệt Đề án thành lập Học viện Tòa án trực thuộc TANDTC.

Trước nhiệm vụ nặng nề của hệ thống TAND trong tình hình mới, Trường Cán bộ Tòa án cần quán triệt chỉ đạo của TANDTC, chủ động đề ra những kế hoạch, giải pháp thích hợp để nâng cao chất lượng bồi dưỡng, đào tạo các chức danh tư pháp thuộc TAND. Các đồng chí cần khẩn trương xây dựng giáo trình giảng dạy chuẩn các bộ môn; kiện toàn đội ngũ giảng viên cơ hữu, giảng viên kiêm chức; nghiên cứu, tham khảo các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước về mọi mặt nhằm phấn đấu đạt chuẩn về các tiêu chí giáo dục ngay khi Trường được nâng cấp thành Học viện. Tiếp tục nghiên cứu, đề xuất, xây dựng cơ chế giáo dục theo nguyên lý khoa học “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”, làm sao để học viên chủ động tiếp thu một cách tự giác, sâu sắc các kiến thức, kỹ năng trong quá trình học tập tại Trường.

Trường Cán bộ Tòa án cần phối hợp chặt chẽ với các đơn vị trực thuộc Tòa án nhân dân tối cao, nhất là với Vụ Tổ chức – Cán bộ, rà soát, xem xét, chọn cử các Thẩm phán, Thư ký, Thẩm tra viên trong toàn hệ thống TAND, đặc biệt ưu tiên TAND cấp huyện… để có kế hoạch bồi dưỡng, đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tiến tới chuẩn hóa các chức danh tư pháp trong hệ thống TAND.

Tôi yêu cầu các Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có thâm niên, kinh nghiệm công tác xét xử lâu năm, cần phát huy tinh thần tích cực tham gia xây dựng TAND trong sạch vững mạnh, đóng góp, xây dựng các chương trình, giáo trình và tích cực tham gia công tác giảng dạy đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn giảng dạy các chương trình bồi dưỡng, đào tạo các chức danh tư pháp Tòa án, giúp cho Trường Cán bộ Tòa án hoàn thiện nhanh các bộ giáo trình chuẩn, chuẩn bị cho việc thành lập Học viện TAND.

Nhân dịp mừng kỷ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11/2014, một lần nữa, tôi xin chúc tập thể đội ngũ các thầy giáo, cô giáo, các đồng chí giảng viên, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, tập thể học viên của Trường cùng gia đình luôn dồi dào sức khỏe, hạnh phúc, hoàn thành tốt nhiệm vụ dạy và học, góp phần cùng toàn hệ thống TAND, Tòa án Quân sự thực hiện thắng lợi Chiến lược cải cách tư pháp của Đảng, góp phần xây dựng đất nước ngày càng phát triển với mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”.

Thân ái.

Trương Hòa Bình (Bí thư TW Đảng, Chánh án TANDTC)

 

Continue Reading

Quốc hội biểu quyết thông qua dự thảo Luật BHXH sửa đổi

Sáng 20/11, Quốc hội biểu quyết thông qua dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi với tỷ lệ tán thành hơn 71% dù trước đó vẫn còn nhiều ý kiến trái chiều, thậm chí đề nghị không thông qua dự án luật tại kỳ này.

Luật gồm 9 chương, 125 điều; dự kiến có hiệu lực từ ngày 1/1/2016. Cách tính lương hưu hàng tháng được sửa đổi theo hướng tăng dần số năm đóng.

Từ 1/1/2018, mức lương hưu bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội tương ứng với 15 năm với lao động nữ và 16 năm với lao động nam.

Với lao động nam, từ năm 2019 mức này tương tứng với 17 năm, năm 2020 là 18 năm, năm 2021 là 19 năm, từ năm 2022 trở đi là 20 năm. Sau đó cứ thêm mỗi năm, lao động được tính thêm 2%, mức tối đa bằng 75%.

Quốc hội thông qua luật BHXK sửa đổi

Ảnh minh họa

Việc thực hiện theo lộ trình như thế để người lao động có thời gian thích nghi với chính sách mới, giảm thiểu tác động bất lợi với người nghỉ hưu, đặc biệt là lao động nữ.

Tính bình quân 15 năm cuối từ khi luật có hiệu lực thi hành 1/7/2015 đến 31/12/2019; từ 1/1/2020 đến 31/12/2024 tính bình quân của 20 năm cuối; từ 1/1/2025 trở đi tính bình quân của toàn bộ thời gian.

Luật bảo hiểm xã hội sửa đổi lần này cũng mở rộng thêm 2 đối tượng tham gia bảo hiểm xã bắt buộc gồm: người lao động có hợp đồng lao động 1-3 tháng và người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn. Cơ quan bảo hiểm xã hội cũng được giao thêm chức năng thanh tra việc đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế.

Về chế độ thai sản, lao động nữ được nghỉ việc khi sinh con là 6 tháng. Trường hợp sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ 2 trở đi cứ mỗi con người mẹ được thêm 1 tháng. Người chồng cũng được nghỉ 5 khi vợ sinh thường và 7 ngày nếu vợ sinh mổ và sinh non. Trường hợp vợ sinh đôi, thì chồng được nghỉ 10 ngày, từ sinh ba trở lên thì cứ thêm mỗi con được nghỉ thêm 3 ngày…

Continue Reading

Đẩy mạnh công tác GD-ĐT, phát huy nguồn lực con người trong CAND

Nhân ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11), Đại tướng, GS.TS Trần Đại Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an đã có bài viết về nhà giáo và công tác GD-ĐT trong CAND với những nét tư duy mới.

Tôn sư trọng đạo” là truyền thống quý báu, bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc ta, được vun đắp qua nhiều thế hệ, góp phần tạo nên nền văn hiến Việt Nam với bề dày hàng nghìn năm lịch sử. Từ xưa đến nay, nghề giáo luôn được xã hội tôn vinh là nghề cao quý; xã hội càng phát triển, đời sống văn hóa, tinh thần, giá trị văn hóa, văn minh càng được đề cao thì vai trò của nhà giáo đối với xã hội càng được coi trọng.

“Thầy cô giáo tốt là những anh hùng vô danh”

Ông bà ta từng nói: “Không thầy đố mày làm nên”. Bác Hồ kính yêu đã dạy: “Nhiệm vụ giáo dục là rất quan trọng và vẻ vang, nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục… không có giáo dục, không có cán bộ thì không nói gì đến kinh tế -văn hóa”; “Thầy cô giáo tốt là những anh hùng vô danh”; cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng đã nhấn mạnh: “Nghề dạy học là nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý”.

Đẩy mạnh công tác GD-DDT trong CAND

Bộ trưởng Bộ Công an Trần Đại Quang tới dự Lễ khai giảng năm học 2014-2015 của Học viện Chính trị CAND ngày 16/11/2014.

Nghị quyết của Đảng qua các kỳ đại hội luôn coi giáo dục, đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn xã hội; đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển. Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XI) về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã chỉ rõ: “Xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục gắn với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng và hội nhập quốc tế. Thực hiện chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo theo từng cấp học và trình độ đào tạo”.

Quán triệt các quan điểm chỉ đạo về phát triển giáo dục, đào tạo, xây dựng đội ngũ giáo viên của Đảng và Nhà nước, những năm qua, công tác giáo dục, đào tạo trong Công an nhân dân (CAND) nói chung, xây dựng đội ngũ giáo viên các học viện, nhà trường CAND nói riêng đã từng bước trưởng thành và lớn mạnh, hòa nhập với tiến trình đổi mới chung của nền giáo dục quốc dân, ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu công tác, chiến đấu và xây dựng lực lượng CAND.

Các thế hệ nhà giáo CAND đã không ngừng nỗ lực phấn đấu, khắc phục khó khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần đào tạo hàng chục vạn cán bộ, chiến sĩ, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu công tác, chiến đấu, xây dựng lực lượng CAND. Nhiều tấm gương nhà giáo tận tụy, hết lòng vì sự nghiệp giáo dục, đào tạo, vì học viên thân yêu là những biểu tượng cao đẹp để các thế hệ giáo viên, học viên mãi mãi noi theo, như Thầy giáo Phạm Tâm Long, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học An ninh nhân dân (nay là Học viện An ninh nhân dân), nguyên Thứ trưởng Thường trực Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an); cố Nhà giáo Phạm Nghi, cố Nhà giáo Hoàng Mai, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học An ninh nhân dân; cố Nhà giáo Trần Đức Trường, cố Nhà giáo Phạm Minh, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Cảnh sát nhân dân…

Đất nước ta bước vào thời kỳ phát triển mới trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực thay đổi nhanh chóng, phức tạp, đa dạng và khó dự báo. Các thế lực thù địch, phản động gia tăng các hoạt động chống phá với nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi, thâm độc, xảo quyệt; tình hình tội phạm và vi phạm pháp luật diễn biến phức tạp, đặt ra cho toàn Đảng, toàn dân nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự rất nặng nề, trong đó lực lượng CAND giữ vai trò nòng cốt.

Giữ vững chữ đạo, trau dồi chữ tâm

Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, phải đẩy mạnh công tác giáo dục, đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản quyết định chất lượng, hiệu quả công tác công an. Đây là nhiệm vụ quan trọng của toàn lực lượng CAND, trong đó đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục đóng vai trò then chốt nhằm đào tạo, cung cấp bổ sung nguồn nhân lực chất lượng cao, đội ngũ cán bộ có phẩm chất đạo đức cách mạng, vững về chính trị, tinh thông về nghiệp vụ, nắm vững pháp luật, có kiến thức về khoa học – công nghệ, tin học, ngoại ngữ và kỹ năng cần thiết để thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước về an ninh, trật tự, đấu tranh phòng, chống có hiệu quả các loại tội phạm, bảo vệ an ninh, trật tự, giữ gìn cuộc sống bình yên và hạnh phúc của nhân dân.

Để thực hiện tốt sứ mệnh vẻ vang của mình, các thầy giáo, cô giáo phải luôn tự hào, phát huy truyền thống anh hùng của lực lượng CAND, tiếp tục quán triệt sâu sắc và thực hiện tốt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Nhiệm vụ của các cô giáo, thầy giáo rất nặng nề, nhưng rất vẻ vang. Muốn làm tròn nhiệm vụ đó thì phải luôn gương mẫu về mọi mặt, không ngừng bồi dưỡng đạo đức cách mạng, lập trường chính trị; phải ra sức đoàn kết giúp đỡ nhau cùng tiến bộ”, xứng đáng là chiến sĩ tiên phong trên mặt trận giáo dục, đào tạo của ngành.

Mỗi thầy giáo, cô giáo cần nhận thức rõ trách nhiệm nặng nề và to lớn của mình đối với việc dạy chữ, dạy người; tâm huyết, say mê với nghề nghiệp, thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng, giữ vững chữ đạo, trau dồi chữ tâm; duy trì trật tự, kỷ cương, kỷ luật, xây dựng nền nếp tự quản, tự giác, nếp sống văn hóa, không ngừng học tập, trau dồi kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, luôn là tấm gương sáng về đạo đức cách mạng, ý chí học tập vươn lên; là người truyền cảm hứng, thắp lên ngọn lửa đam mê học tập, say mê nghề nghiệp, khơi dậy tình yêu quê hương, đất nước, khát khao cống hiến cho lý tưởng cách mạng để học viên noi theo.

Giáo viên phải là người nắm chắc và vận dụng sáng tạo các quy luật dạy học, có hiểu biết sâu sắc về phương pháp học, phương pháp nghiên cứu khoa học, ham mê hiểu biết, khám phá cái mới; dạy cho học viên phương pháp học, phương pháp nghiên cứu. Trong giảng dạy, phải triển khai sâu rộng, duy trì thường xuyên, hiệu quả các phong trào thi đua dạy giỏi trong giáo viên và học tốt, rèn luyện tốt trong học viên, gắn với chấp hành nghiêm Điều lệnh, xây dựng nếp sống văn hóa vì nhân dân phục vụ. Nhà trường phải thực sự là nơi có môi trường giáo dục trong sạch, lành mạnh, giàu tính nhân văn, “Mỗi mét vuông trong nhà trường đều phải mang tính giáo dục”; cán bộ, giáo viên, công nhân viên phải hành động theo khẩu hiệu “Tất cả vì học viên thân yêu”, tôn trọng, thương yêu chăm sóc nhau, cư xử theo nghĩa thầy trò, thắm tình đồng chí, đồng đội; xây dựng các học viện, nhà trường CAND thành “Nhà trường kỷ cương-Nhà giáo mẫu mực- Học viên tích cực”.

Mọi tổ chức, hoạt động trong nhà trường phải tuân thủ kỷ cương, kỷ luật, Điều lệnh CAND, coi đây là nền tảng tạo nên sức mạnh của nhà trường, góp phần nâng cao sức chiến đấu của lực lượng CAND. Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục truyền thống, đề cao ý thức, trách nhiệm của mỗi cán bộ, giáo viên, công nhân viên và học viên  trong việc thấm nhuần sâu sắc và thực hiện tốt các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, từ đó xây dựng ý thức học tập, nâng cao trình độ, tích cực tham gia sự nghiệp đổi mới giáo dục, đào tạo của ngành. Đặc biệt, cần chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý học viên thực sự mẫu mực, trong sáng, tận tâm, tận lực, gắn bó chặt chẽ với quá trình học tập, rèn luyện, sinh hoạt của học viên, tích cực góp phần cùng đội ngũ giáo viên đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng CAND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

Bên cạnh những kết quả, thành tích đáng biểu dương, nghiêm túc nhìn nhận, vẫn còn một số trường hợp vi phạm nội quy, kỷ luật, Điều lệnh CAND, ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường học tập, rèn luyện trong nhà trường. Điều này đòi hỏi mỗi cán bộ, giáo viên, công nhân viên, trước hết là Ban lãnh đạo các học viện, nhà trường CAND cần tự giác gương mẫu làm tốt công tác tự phê bình và phê bình, không né tránh, thẳng thắn nhìn nhận hạn chế, thiếu sót để khắc phục, sửa chữa. Thực tế cho thấy, ở trường nào, lãnh đạo nhận thức rõ về những hạn chế, thiếu sót và thực sự cầu thị, có biện pháp khắc phục, sửa chữa thì ở đó, chất lượng giáo dục, đào tạo được nâng cao, kỷ cương, kỷ luật được tăng cường. Mỗi học viện, nhà trường CAND cần chú trọng hơn nữa công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục truyền thống, lý tưởng cách mạng, đạo đức nghề nghiệp; tăng cường công tác quản lý theo tinh thần thượng tôn pháp luật, thường xuyên tự giác tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất, tư cách đạo đức, giữ vững kỷ cương, kỷ luật, chấp hành nghiêm Điều lệnh CAND.

Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục đào tạo trong CAND

Để nâng cao hơn nữa chất lượng học tập và rèn luyện, cần tiếp tục đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự đào tạo của người học, gắn kết chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn, với nhu cầu sử dụng cán bộ, nhất là đào tạo sau đại học; thường xuyên cải tiến phương pháp quản lý phù hợp với mỗi cấp trình độ, loại hình và đối tượng đào tạo; chú trọng công tác xây dựng Đảng, công tác quần chúng, các hoạt động giáo dục truyền thống; tăng cường các hoạt động ngoại khóa, tham quan, thực tế; tham gia bảo vệ an ninh, trật tự, các hoạt động xã hội tình nguyện, nối nhịp cầu nhân ái giữa lực lượng CAND địa phương nơi đóng quân bằng những việc làm thiết thực; tăng cường tổ chức cho học viên tham gia các câu lạc bộ tin học, ngoại ngữ, pháp luật, võ thuật… nhằm bổ sung tri thức, nâng cao thể lực, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Qua đó, giúp học viên khi ra trường có kỹ năng sống, tác phong chính quy, gắn bó mật thiết với nhân dân.

Công tác quản lý học viên cần quán triệt mục tiêu học tập, rèn luyện tư cách người Công an cách mạng theo “Sáu điều Bác Hồ dạy CAND”, xác định động cơ, thái độ học tập đúng đắn, siết chặt kỷ cương, kỷ luật gắn với phát huy năng lực và sức sáng tạo của học viên; động viên, khen thưởng kịp thời, đi liền với kiên quyết xử lý nghiêm minh các hiện tượng vi phạm kỷ luật.

Phát huy tính năng động, sáng tạo của học viên, khuyến khích học viên tích cực nghiên cứu khoa học, tham gia giải quyết các vấn đề mà thực tiễn công tác, chiến đấu, xây dựng lực lượng đặt ra, thực sự là lực lượng dự bị sẵn sàng chiến đấu đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng CAND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại. Nghiên cứu thực hiện đổi mới hình thức và phương pháp thi, kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo  bảo đảm trung thực, khách quan về kết quả học tập của người học. Tăng cường thanh tra, giám sát và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, giám sát chất lượng đào tạo, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong giảng dạy, học tập, quản lý học viên trong nhà trường CAND.

Tập trung đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục đạt chuẩn theo quy định của Nhà nước về trình độ chính trị, chuyên môn, ngoại ngữ, kỹ năng nghề nghiệp. Thực hiện nghiêm túc các quy định về luân chuyển, đi thực tế đối với giáo viên để cập nhật kiến thức phục vụ giảng dạy trong nhà trường. Có kế hoạch cử giáo viên, cán bộ quản lý trẻ đi đào tạo, bồi dưỡng  chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ ở trong và ngoài nước để đáp ứng yêu cầu chuẩn hóa trình độ cho đội ngũ cán bộ giảng dạy và tạo nguồn cán bộ lãnh đạo cũng như đội ngũ giảng viên đầu ngành ở các khoa, bộ môn. Phấn đấu để các học viện, nhà trường CAND ngày càng có nhiều giáo viên có khả năng giảng dạy được bằng tiếng Anh trong các chương trình đào tạo quốc tế.

Đổi mới cơ chế quản lý giáo viên theo hướng phát huy năng lực và sức sáng tạo cá nhân; thu hút cán bộ giỏi của các ngành, nhất là về lý luận chính trị, khoa học-công nghệ tham gia giảng dạy trong các học viện, nhà trường CAND; khuyến khích đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục tích cực tham gia nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học – công nghệ; xây dựng nhà trường CAND thực sự là môi trường tốt để các nhà giáo có thể mang hết sức lực, trí tuệ, tài năng cống hiến cho sự nghiệp giáo dục, đào tạo của ngành.

Các học viện, nhà trường CAND cần tiếp tục quan tâm cải thiện điều kiện làm việc, giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học của đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục và học viên. Trong quy hoạch, xây dựng, phát triển nhà trường và đầu tư trang bị, phương tiện kỹ thuật dạy học, đều phải theo hư­ớng hiện đại, có hiệu quả thiết thực, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo, cải thiện điều kiện giảng dạy, làm việc của giáo viên.

Tăng cường quan hệ phối hợp giữa các học viện, nhà trường CAND; phát huy trách nhiệm của các trường trọng điểm và khai thác có hiệu quả thế mạnh của từng trường, khắc phục tình trạng khép kín của hệ thống các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng. Nghiên cứu cơ chế huy động sự đóng góp tích cực của Công an các đơn vị, địa phương vào quá trình đào tạo, bồi dưỡng của các học viện, nhà trường CAND.

Công an các đơn vị, địa phương cần tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các học viện, nhà trường CAND trong việc tổ chức cho giáo viên đi luân chuyển, học viên đi thực tế, thực tập, hoạt động ngoại khóa, giáo dục truyền thống, giáo dục chính trị, tư tưởng; cung cấp thông tin, tài liệu để giáo viên cập nhật những vấn đề mà thực tiễn công tác, chiến đấu đặt ra nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng.

Tiếp tục nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các chế độ, chính sách tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng hợp lý đối với giáo viên; có chế độ khuyến khích, ưu đãi đối với giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục phù hợp với yêu cầu xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục, bảo đảm chủ trương giáo dục, đào tạo là quốc sách hàng đầu của Đảng, Nhà nước được thực hiện đầy đủ trong thực tế; quy định tuổi nghỉ hưu phù hợp nhằm tăng cường tiềm lực, phát huy năng lực, trí tuệ của đội ngũ nhà giáo có học hàm Giáo sư, Phó Giáo sư và học vị Tiến sĩ đối với sự nghiệp giáo dục, đào tạo trong CAND.

Xây dựng, phát triển đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục trong các nhà trường CAND ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới là nhiệm vụ chính trị quan trọng, đòi hỏi sự nỗ lực không ngừng của cấp ủy, lãnh đạo, chỉ huy Công an các cấp, trước hết là đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục.

Ngày 6/10/2014, Đảng ủy Công an Trung ương và Bộ Công an đã tổ chức Hội nghị Tổng kết 70 năm công tác giáo dục, đào tạo và triển khai Chương trình nhiệm vụ năm học 2014- 2015 trong CAND, đồng thời ban hành Nghị quyết, Chỉ thị về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đánh dấu sự phát triển của công tác giáo dục, đào tạo để cụ thể hóa Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đây là những căn cứ quan trọng, tạo tiền đề cho công tác giáo dục, đào tạo trong CAND đổi mới và phát triển mạnh mẽ, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân vượt qua thách thức, khó khăn, đưa dân tộc sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ kính yêu hằng mong ước.

Continue Reading

Ý kiến cử tri về vấn đề lao động – việc làm

Ngày 19/11, các đại biểu Quốc hội đã chất vấn Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội về các nội dung như việc xây dựng các trung tâm dạy nghề, xuất khẩu lao động, tình trạng nợ lương của doanh nghiệp và nợ đọng bảo hiểm xã hội, …

 Cần dự báo chính xác về lực lượng lao động và vị trí việc làm

Cử tri tỉnh Bình Dương đánh giá: Các đại biểu Quốc hội đã chất vấn xác đáng nhiều vấn đề người dân và xã hội quan tâm về giải quyết việc làm và đào tạo nguồn nhân lực. Trong phần trả lời chất vấn, Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã chỉ ra những tồn tại trong việc đào tạo nghề cũng như thực trạng dư thừa việc làm trong xã hội. Tuy nhiên, những dự báo về ngành nghề, vị trí việc làm trong tương lai thì chưa thấy Bộ trưởng nhắc đến.

Cử tri Trần Hữu Lịch đề nghị: Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội cần phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo có những chính sách ưu đãi cho đào tạo nghề thực sự đủ sức thuyết phục phụ huynh lẫn học sinh. Các cấp lãnh đạo cần nghiên cứu đề ra những chính sách hợp lý như phân luồng học sinh, chính sách ưu đãi trong đào tạo nghề… nếu không dễ dẫn đến nguy cơ không có được đội ngũ nhân lực đồng bộ về cơ cấu ngành nghề và trình độ để tiến hành công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.

Ý kiến cử tri với Quốc hội: Vấn đề lao động - việc làm tiếp tục thu hút sự quan tâm

Bộ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội Phạm Thị Hải Chuyền trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội.

Cử tri trẻ Nguyễn Quốc Hưng (sinh năm 1991) ở 52/1 Vạn Hạnh, phường 8, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng tỏ ra quan tâm tới phiên chất vấn Bộ trưởng Lao động, Thương binh và Xã hội lần này khi Quốc hội và các đại biểu Quốc hội đã thêm một lần thể hiện sự quan tâm tới vấn đề giải quyết việc làm cho lao động trẻ, nhất là sinh viên mới ra trường. Bản thân Hưng tốt nghiệp Đại học Đà Lạt chuyên ngành du lịch gần một năm nay nhưng hiện vẫn loay hoay tìm kiếm việc làm.

Cử tri Nguyễn Quốc Hưng nhấn mạnh: Bộ trưởng và các đại biểu Quốc hội đã nói rất đúng về tình trạng trong khi chờ tìm được việc làm phù hợp với khả năng chuyên môn, chuyên ngành được đào tạo, hàng trăm nghìn sinh viên ra trường như tôi đã phải chạy đủ thứ việc, thử đủ thứ nghề. Thật khó cho chúng tôi khi định hướng nghề nghiệp lúc đầu chưa rõ, nhu cầu thị trường, nhu cầu việc làm cũng mù mờ.

Cần thông tin rộng rãi về thị trường xuất khẩu lao động

Xuất khẩu lao động và việc nâng cao chất lượng lao động xuất khẩu của Việt Nam cũng là nội dung mà nhiều cử tri quan tâm. Là người xây dựng chuyên mục “Những miền đất lạ và cơ hội việc làm” của Đài Phát thanh và truyền hình Lâm Đồng, cử tri Trần Thanh Tâm ( Đài Phát thanh và truyền hình Lâm Đồng) cho rằng để nâng cao chất lượng lao động xuất khẩu của Việt Nam, xây dựng được thương hiệu lao động Việt Nam xuất khẩu sang thị trường các nước cần chú trọng cho công tác giáo dục, định hướng nghề nghiệp, thông tin thị trường.

Cử tri Đặng Văn Dũng, Phòng Việc làm – An toàn lao động – Bình đẳng giới, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội Hà Tĩnh bày tỏ sự đồng tình với phần trả lời của Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội về tình trạng lao động Việt Nam ở nước ngoài bỏ trốn và chất lượng đào tạo dạy nghề trong nước.

Continue Reading

Hội thảo quốc tế về biển Đông lần thứ 6

Các học giả đến từ Mỹ, Australia, Ấn Độ, Trung Quốc… trao đổi, thảo luận về 8 vấn đề lớn. Trong đó, trọng tâm là các phiên bàn luận về nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề biển Đông.

Trong 2 ngày 17 và 18/11, Hội thảo quốc tế về biển Đông lần thứ 6 với chủ đề “Biển Đông: Hợp tác vì an ninh và phát triển ở khu vực” do Học viện Ngoại giao phối hợp với Hội Luật gia Việt Nam và Quỹ Hỗ trợ nghiên cứu Biển Đông đã tổ chức tại Đà Nẵng.

Phát biểu khai mạc, Chủ tịch Hội Luật gia Việt Nam Nguyễn Văn Quyền nói, những năm qua các học giả quốc tế cũng như trong nước đã nghiên cứu, kiến nghị nhiều chính sách giúp người dân hiểu rõ bản chất của tranh chấp, những đúng sai trong các diễn biến trên biển Đông.

Hội thảo quốc tế các vấn đề biển Đông lần thứ 6

Các đại biểu dự hội thảo.

Đại sứ Đặng Đình Quý, Giám đốc Học viện Ngoại giao, nhấn mạnh: “Biển Đông tiếp tục là một trong những khu vực tranh chấp phức tạp nhất thế giới. Chủ nghĩa dân tộc quá khích đã gia tăng trong một số nước; xu hướng tăng cường vũ trang, bán vũ trang đang mạnh dần lên; lòng tin giữa các bên liên quan tiếp tục suy giảm. Những xu hướng này sẽ làm cho tình hình Biển Đông có thể diễn biến phức tạp hơn, không loại trừ khả năng bùng nổ xung đột vũ trang”.

Nhiều học giả cho rằng, sự gia tăng về số lượng và cường độ hoạt động của các lực lượng quân sự và bán quân sự tại Biển Đông dẫn tới tình hình căng thẳng thời gian gần đây. Căng thẳng gần đây tại Biển Đông không chỉ tác động tiêu cực tới việc bảo tồn và phát triển các nguồn tài nguyên biển mà còn đe dọa an ninh các tuyến đường hàng hải quốc tế qua Biển Đông.

Có học giả cảnh báo nghịch lý, trong khi cộng đồng khu vực rất nỗ lực tránh để xảy ra xung đột, một số nước lại đang tạo ra các căng thẳng ở mức độ thấp. Đây là dấu hiệu rất nguy hiểm vì Biển Đông còn thiếu vắng Bộ Quy tắc ứng xử hoặc Điều ước quản lý va chạm, xung đột trên biển có tính ràng buộc pháp lý.

Nhiều học giả đánh giá cao nỗ lực thiết lập đường dây nóng giữa các bên ở Biển Đông; cho rằng việc thiết lập đường dây nóng cần kết hợp với cơ chế thực hiện cụ thể nhằm đưa đường dây nóng vào hoạt động hiệu quả.

Trong hội thảo, nhiều ý kiến đưa ra để giải quyết những vấn đề biển Đông, tình hình chung ở biển Đông và chính sách của các bên liên quan; quan hệ quốc tế và trật tự ở Biển Đông; Luật Biển quốc tế… được đánh giá cao.

Continue Reading

Góp ý vào Dự thảo Luật THADS (sửa đổi)

Tại nghị trường Quốc hội, khi góp ý vào Dự thảo Luật THADS (sửa đổi), đại biểu Phạm Xuân Thường đã có những ý kiến đóng góp rất xác đáng và tâm huyết với việc, làm thế nào để khắc phục tình trạng án dân sự đang tồn đọng như hiện nay? Ý kiến đóng góp của Đại biểu Phạm Xuân Thường (Thái Bình) được nhiều đại biểu và người dân đồng tình, ủng hộ.

Trao đổi với chúng tôi bên lề quốc hội, Đại biểu Phạm Xuân Thường có những ý kiến xoay quanh vấn đề này:

PV: Ông đánh giá như thế nào về Dự thảo Luật Thi hành án dân sự trình Quốc hội vừa qua?

ĐB Phạm Xuân Thường: Tôi cho rằng, nhiều nội dung sửa đổi của Luật không phù hợp, như: Việc mở rộng đối tượng và số tiền miễn, giảm thi hành án hay bỏ nội dung trả lại đơn thi hành án sẽ làm khó khăn hơn nhiều cho Cơ quan thi hành án dân sự và làm tăng thêm số lượng án tồn đọng với con số hàng chục nghìn vụ mỗi năm…

Thứ nhất, đó là việc đề nghị Quốc hội bỏ Điều 61 quy định điều kiện miễn, giảm thi hành án đối với khoản thu cho ngân sách Nhà nước. Quy định này không giải quyết được tận gốc lý do làm lượng án tồn đọng phải xét miễn, giảm. Đó chỉ là giải pháp tạm thời, thay vào đó để giải quyết cơ bản số án xét miễn giảm hàng năm, tôi đề nghị Quốc hội sớm sửa ngay các quy định của pháp luật hình sự, bỏ tiền án phí hình sự, bỏ tiền phạt các vụ án ma túy.

PV: Ông có thể cho biết lý do vì sao lại đề xuất như vậy không?

ĐB Phạm Xuân Thường: Việc xác định tội phạm là trách nhiệm của Nhà nước, tại sao lại bắt người phạm tội phải nộp tiền án phí hình sự khi họ đã nộp thuế để Nhà nước làm công việc đó. Với 200.000 đồng đối với một bị án thì liệu số tiền trên có bù đắp được chi phí của Nhà nước đã bỏ ra cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hay không? Nhiều tử tù đã thi hành án tử hình mà số tiền án phí, tiền phạt vẫn còn đó vì họ có tài sản chung với gia đình nhưng không tách ra được nên vẫn là loại việc có điều kiện thi hành? Vì vậy, án phí hình sự là bất hợp lý, là không phù hợp.

Góp ý vào luật TADS sửa đổi

Đại biểu Phạm Xuân Thưởng

Bên cạnh đó, theo báo cáo của Cơ quan thi hành án dân sự thì số việc tồn đọng hiện nay chủ yếu là án phí và tiền phạt thu cho ngân sách Nhà nước. Người phải thi hành án hầu hết là người phạm các tội về ma túy, án dài 10, 20 năm, chung thân, thậm chí đã tử hình hoặc là những người nghiện ma túy, phạm tội. Cả hai đối tượng này hiện tại và trong tương lai đều không có khả năng thi hành hoặc có khả năng cũng chẳng ai tự nguyện mang nộp án phí sau khi ra tù cho cơ quan thi hành án. Số tiền án phí rất ít, cưỡng chế thi hành án thì không đáng. Vì vậy, các cơ quan thi hành án đành phải tuân thủ theo quy định, thụ lý rồi tiến hành xác minh một năm hai lần, để rồi khi đủ thời gian 5 – 10 năm sau theo quy định là xét miễn, giảm.

Tòa án cứ buộc, cứ phạt, vì luật đã quy định; Cơ quan thi hành án cứ xác minh, đôn đốc, thu không được bao nhiêu đến khi đủ điều kiện thì tổ chức xét miễn, giảm và kết thúc thi hành án. Vòng luẩn quẩn này không thể chấm dứt được nếu không có sự thay đổi căn bản cách nhìn nhận về quy định này.

PV: Như vậy, có phải việc bỏ án phí hình sự là sẽ mất đi một khoản thu rất lớn cho ngân sách Nhà nước hay không, thưa ông?

ĐB Phạm Xuân Thường: Không phải như vậy mà là ngược lại. Thực chất, bỏ án phí hình sự, tức là bỏ một khoản thu rất nhỏ có thể thu được nhưng lại giảm đáng kể lượng việc phải giải quyết, lượng việc tồn và theo lý thuyết, có thể giảm được khoảng 20% cán bộ thi hành án dân sự hiện nay. Tôi xin chứng minh như sau: Năm 2014, toàn ngành TAND xét xử 148.519 bị cáo phạm tội hình sự và buộc họ phải nộp án phí số tiền gần 32 tỷ đồng. Theo đó, các Cơ quan thi hành án dân sự phải thụ lý 148.519 việc thi hành án phí hình sự. Cũng năm 2014, toàn ngành thi hành án dân sự thụ lý, thi hành 779.298 việc, với số cán bộ hiện có của ngành là 9.891 người, như vậy, mỗi cán bộ thi hành án một năm phải thi hành 78 việc. Nếu lấy số 148.519 việc thi hành án phí hình sự chia cho 78 việc thì số người cơ quan thi hành án cần để thi hành số việc đó là 1.967, người tức là gần 2.000 người.

Vậy, việc bỏ 32 tỷ đồng trên giấy mà chủ yếu là không thu được để giảm tới 148.519 việc và khoảng gần 2.000 biên chế. Việc này có nên làm không?

PV: Vậy nội dung lớn thứ 2 mà ông muốn đề nghị sửa đổi trong Dự thảo Luật là gì?

ĐB Phạm Xuân Thường: Vấn đề lớn nữa mà tôi đề cập đến là đề nghị Quốc hội giao lại công tác thi hành án dân sự cho Tòa án như trước năm 1994. Tại kỳ họp thứ 7, Chính phủ đưa nội dung chuyển TAND ra quyết định thi hành án, chứng tỏ Chính phủ biết rõ tách trách nhiệm của Tòa án ra khỏi thi hành án thì công tác thi hành án đạt hiệu quả thấp. Bởi vì, xét xử, thi hành án vốn là hai nội dung thống nhất của một quá trình tố tụng, công tác thi hành án được khởi động ngay từ khi thụ lý như thu dự phí và diễn ra trong suốt quá trình thi hành án như giao nhận tang vật, thực hiện biện pháp khẩn cấp tạm thời, bồi thường tính mạng, sức khỏe, đưa người lao động trở lại làm việc… xác minh, cưỡng chế, miễn, giảm, kết thúc thi hành án.

Do vậy, tách trách nhiệm của Tòa án tức là cắt khúc tố tụng, thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa Toà án và Cơ quan thi hành án dân sự, thi hành án kém hiệu quả và án tồn đọng sẽ tăng lên.

PV: Vậy theo ông, việc trả lại chức năng này cho Tòa án thì có lợi như thế nào?

ĐB Phạm Xuân Thường: Trước hết, công tác thi hành án dân sự do Tòa án thực hiện nên kết hợp hài hòa, gắn trách nhiệm của cán bộ Tòa án với công tác thi hành án dân sự. Công việc của hai cơ quan nay giao cho một cơ quan đương nhiên sẽ đơn giản hơn rất nhiều, các vụ án sẽ được giải quyết nhanh gọn hơn, đảm bảo thời gian và đảm bảo được hiệu quả.

Thứ nữa, công tác thi hành án sẽ được bổ sung một đội quân tinh nhuệ khoảng 7.000 – 8.000 người, đó là các Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán, Thư ký, cán bộ thi hành án hình sự từ Tòa án mà Nhà nước không phải tăng biên chế, không phải chi phí ngân sách. Ngược lại, TAND cũng được bổ sung một nguồn nhân lực chất lượng cao, đó là các Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký Thi hành án, mà không phải lo đào tạo, bồi dưỡng. Việc này không những không làm tăng biên chế mà còn có thể cắt giảm số người làm công tác thi hành án. Ví dụ, trước năm 1994, mỗi Tòa án huyện có một cán bộ làm công tác thi hành án cả hình sự và dân sự (thực chất là cả cơ quan Tòa án phải làm công tác thi hành án chứ không chỉ có một người phân công chuyên trách). Tòa án tỉnh có một phòng thi hành án có từ 3 – 5 người làm công tác thi hành án. Toàn quốc lúc đó có khoảng 1.000 người làm thi hành án chuyên trách, vì ta có hơn 600 huyện và 64 tỉnh, thành phố.

Trước năm 1994, hệ thống Tòa án xét xử mỗi năm bình quân 50.000 – 60.000 vụ. Công tác thi hành án khi đó rất thuận lợi, không vướng mắc gì, nhưng tôi không hiểu tại sao Quốc hội khi đó lại chuyển giao công tác thi hành án dân sự cho Chính phủ.

Đến nay, mỗi huyện có một Chi cục thi hành án dân sự, Chi cục thi hành án bố trí từ 10-12 biên chế, một người làm công tác thi hành án hình sự ở Tòa án, như vậy có khoảng 11-13 người/đơn vị cấp huyện. Còn ở tỉnh có Cục Thi hành án dân sự bố trí từ 25-40 người, Tòa án tỉnh cũng phải bố trí 1-2 người làm công tác thi hành án hình sự. Số người làm công tác thi hành án dân sự hiện nay gồm 9.891 người và khoảng gần 1.000 người làm công tác thi hành án hình sự, tổng cộng gần 11.000 người. Số vụ việc tòa xét xử như năm 2014 là 385.000 vụ việc, như vậy án Tòa xét xử tăng so với năm 1994 khoảng 7 lần, người làm công tác thi hành án tăng khoảng 11 lần nhưng công tác thi hành án dân sự không hiệu quả như chúng ta mong muốn, chứng tỏ mô hình quản lý không phù hợp. Theo tôi, nếu kết hợp bỏ cả án phí hình sự, bỏ cả án phạt tiền các tội phạm ma túy và trả lại công tác thi hành án dân sự cho Tòa án thì việc giảm 20-30% người làm công tác thi hành án là hoàn toàn có cơ sở.

PV: Trân trọng cảm ơn ông!

 

Continue Reading

Quốc hội yêu cầu Bộ GTVT thực hiện cho được những cam kết

Hôm nay 19/11, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đề nghị Bộ trưởng Bộ GTVT phải thực hiện cho được những cam kết trước Quốc hội, tại phiên chất vấn và trả lời chất vấn đối với bộ trưởng bộ GTVT Đinh La Thăng.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng cho biết: Trong phiên trả lời chất vấn đối với Bộ trưởng Đinh La Thăng, ý kiến của các đại biểu đặt thẳng vấn đề, rất ngắn gọn, rõ ràng. Bộ trưởng đã đi thẳng vào vấn đề làm rõ vấn đề và đưa ra được các giải pháp cũng như đưa ra cam kết quyết đoán ngay tại phiên chất vấn với tinh thần đã nói và làm, hứa thì phải thực hiện. Đây không phải chỉ hứa với đại biểu Quốc hội mà hứa với đồng bào cử tri của cả nước. Ví dụ: như cam kết cuối năm sau vượt kế hoach 1 năm đối với đường Quốc lộ 1; cam kết đường sắt Hà Nội – Hà Đông đảm bảo an toàn; cam kết đường nông thôn đến xã, cầu treo đến vùng khó khăn theo đúng kế hoạch của Bộ trưởng.

Phải có sơ đồ tài chính trên tinh thần phải có hiệu quả, cái nào làm trước, cái gì làm sau, phát huy được hiệu quả kinh tế sớm thì ta làm sớm, triển khai một cách đồng bộ, không xem nhẹ mảng giao thông nào từ đường bộ đến đường sắt cho đến đường thủy cả đường sông, đường biển và liên kết quốc tế. Vừa có được mô hình đầu tư chính xác hiệu qủa, vừa có được sơ đồ chính xác chúng ta bảo đảm đến cuối năm 2015 này báo cáo Quốc hội để chuẩn bị cho năm 2016 và đến năm 2020 tiếp tục đột phá phát triển kinh tế xã hội đất nước.” – Chủ tịch Nguyễn Sinh Hùng nói.

QH yêu cầu bộ trưởng bộ GTVT thực hiện cho được những cam kết

Bộ trưởng Bộ GTVT Đinh La Thăng trả lời chất vấn của ĐBQH

Quốc hội yêu cầu Bộ GTVT cần quan tâm đến chất lượng đầu tư, bảo đảm giá thành hợp lý và phát huy hiệu quả; tăng cường kiểm tra, kiểm soát ngay cả quy hoạch, dự án, thiết kế, dự toán để đảm bảo chất lượng vì hiệu qủa của mỗi con đường, công trình đều gắn với hiệu quả kinh tế của đất nước.

Tiếp đó, ngành GTVT phải dứt khoát và tiếp tục giảm tai nạn giao thông. Nước ta đã làm quyết liệt hàng năm giảm từ 5-10% và 3 năm nay có địa phương giảm được 20-30% nhưng có địa phương không giảm được mà còn tăng.

Ngoài ra, Bộ trưởng Bộ GTVT cũng cần xem xét đánh giá hiệu quả của vận tải, kinh doanh vận tải để xây cơ cấu hợp lý trong các ngành kinh tế vận tải từ đó phát triển cơ sở hạ tầng nhưng phải đáp ứng nhu cầu của đất nước trong vận tải; có nhiều biện pháp tích cực để nâng chất lượng phục vụ vận tải.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng cũng yêu cầu Bộ trưởng Bộ GTVT tiếp tục thúc đẩy tái cơ cấu đầu tư, tái cơ cấu doanh nghiệp trong lĩnh vực của ngành để khắc phục chất lượng kinh doanh hiện nay chưa cao. Chẳng hạn như chất lượng tại các sân bay, các hãng hàng không, các công ty vận tải chưa hiệu quả cao và lãng phí. Đặc biệt, kinh doanh đường thủy mới khởi động và thấy rõ tiềm năng nhưng chúng ta chưa phát huy được thế mạnh và chưa đem lại hiệu thiết thực.

Continue Reading

Hà Nội: Tổ chức lễ tưởng niệm các nạn nhân tử vong vì tai nạn giao thông

Nhằm tưởng nhớ đối với những người xấu số khi tham gia giao thông và bày tỏ sự chia sẻ nỗi đau đối với gia đình nạn nhân. Ngày 16/11 vừa qua tại Hà Nội đã tổ chức Lễ tưởng niệm các nạn nhân tử vong vì tai nạn giao thông. Sự kiện có sự góp mặt của Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Chủ tịch Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia.

Được biết, đây là năm thứ ba, Ủy Ban An Toàn Giao Thông Quốc gia phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức Lễ tưởng niệm các nạn nhân tử vong vì tai nạn giao thông.

Trong buổi lễ tưởng niệm, nhiều hình ảnh, câu chuyện có thật về các vụ tai nạn giao thông đã được tái hiện một cách chân thật.  Qua đó nhằm gửi gắm và nhấn mạnh thông điệp về lời cảnh tỉnh tới những người ngồi sau tay lái hôm nay và mai sau cần có ý thức hơn nữa để không gây ra những tai nạn thương tâm, những mất mát cho chính bản thân, gia đình, xã hội.

Tại buổi lễ tưởng niệm, Chủ tịch Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia – Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nêu rõ sự mất mát về con người là điều không gì có thể bù đắp, mỗi ngày ở nước ta có khoảng 25 người ra khỏi nhà và vĩnh viễn không thể quay về với gia đình, để lại nỗi đau tột cùng cho người thân.

Hà Nội: Tổ chức lễ tưởng niệm các nạn nhân tử vong vì tai nạn giao thông

Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thỉnh chuông cầu an cho nạn nhân tai nạn giao thông.

Phó Thủ tướng nhấn mạnh mỗi tai nạn giao thông là trách nhiệm của mỗi cả nhân và cộng đồng, mọi người Việt Nam cần có nhận thức nghiêm túc về hậu quả nghiêm trọng của tai nạn giao thông để lại cho chính bản thân, gia đình và xã hội. Đồng thời, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã không quên kêu gọi tất cả mọi người, tất cả các cơ quan ban ngành cùng chung sức góp phần thúc đẩy giao thông Việt Nam ngày càng văn minh, an toàn, mọi người hãy sống có ý thức, trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội để triệt tiêu vấn đề tai nạn giao thông vì sự an toàn của những người đang sống, vì sự phát triển chung của đất nước, vì tương lai của con cháu mình và vì mạng sống của chính bản thân mỗi cá nhân.

Cuối cùng, để gửi lời chia buồn sâu sắc nhất đến tất cả các gia đình có nạn nhân tử vong vì tai nạn giao thông, Phó Thủ tướng kêu gọi mỗi người hãy cùng chung tay chia sẻ những tổn thất, mất mát của các nạn nhân, gia đình nạn nhân tai nạn giao thông. Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã làm lễ thỉnh chuông để cầu an cho các nạn nhân tai nạn giao thông.

Lễ tưởng niệm các nạn nhân tử vong vì tai nạn giao thông là buổi lễ đầy ý nghĩa, thể hiện tính chân thực và nhân văn sâu sắc. Qua đó nhằm tưởng nhớ người đi, vì người ở lại, góp phần hướng đến giao thông an toàn, đem lại hạnh phúc cho gia đình và cộng đồng xã hội.

 

 

 

Continue Reading

Quốc hội hoàn tất việc lấy phiếu tín nhiệm

Quốc hội vừa hoàn tất việc lấy phiếu tín nhiệm đối với 50 người giữ các chức danh được Quốc hội bầu và phê chuẩn vào sáng nay, ngày 15/11.

Quốc hội hoàn tất việc lấy phiếu tín nhiệm

Các Đại biểu Quốc hội đang bỏ phiếu.

Trong cuộc bỏ phiếu lần này có tất cả 484 đại biểu tham gia. Đồng thời, Ban kiểm phiếu có 29 thành viên do Bí thư Bình Thuận- ông Huỳnh Văn Tí làm Trưởng Ban Kiểm Phiếu.

Sau khi được bổ nhiệm làm Trưởng ban Kiểm phiếu, ông Huỳnh Văn Tý đã thông báo và hướng dẫn các Đại biểu Quốc hội về quy trình cũng như cách thức bỏ phiếu  tín nhiệm.

Theo đó, các đại biểu được phát 11 lá phiếu với tổng số 50 chức danh được lấy phiếu tín nhiệm theo danh sách đã thông qua 1 ngày trước. Đặc biệt, trên từng lá phiếu có ghi rõ họ tên, chức vụ cũng như mức độ tính nhiệm (tín nhiệm cao, tín nhiệm, tín nhiệm thấp) để các đại biểu dễ chọn lựa.

Được biết, 11 loại phiếu gồm: Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội, các uỷ viên UB Thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ, Viện trưởng VKSND tối cao, Chánh án TAND tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước.

Cụ thể, quá trình bỏ phiếu như sau, các đại biểu có 30 phút để ghi phiếu tín nhiệm. Sau 30 phút (8h30’ – 9h) các đại biểu Quốc hội tiến hành bỏ phiếu tín nhiệm vào thùng phiếu.

Được biết, cuối giờ chiều nay sẽ có kết quả lấy phiếu tín nhiệm.

Continue Reading

Thủ tướng: Yêu cầu đảm bảo an ninh trên Biển Đông

Tại Hội nghị cấp cao ASEAN diễn ra tại Nay Pyi Taw ( Myanmar) ngày 13/11, Thủ tướng chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã nêu vấn đề Biển Đông ra trước Hộ nghị.

Thủ tướng: Yêu cầu giữ nguyên trạng Biển Đông

Yêu cầu đảm bảo an ninh Biển Đông (ảnh Dân trí)

Phát biểu tại Hội nghị cấp cao về vấn đề Biển Đông, Thủ tướng luôn nhấn mạnh về hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông là lợi ích của các nước trong và ngoài khu vực. Khi trao đổi về vấn đề Biển Đông, các nhà lãnh đạo cũng đồng tình với phát biểu trên.

Thủ tướng nhấn mạnh việc các bên liên quan cần nghiêm túc tuân thủ luật quốc tế, trong đó có Công ước cuả Liên hợp quốc về Luật biển 1982. Các nước giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, không sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực; thực hiện đầy đủ và nghiêm túc Tuyên bố về Ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC.

Đồng thời, Thủ tướng cũng đánh giá tích cực trong mối quan hệ giữa ASEAN và Trung Quốc qua những thành tựu đã đạt được, đánh gía cao sự ủng hộ của Trung Quốc đối với vai trò trung tâm của ASEAN, hoan nghênh những tiến bộ đạt được trong tham vấn vừa qua giữa ASEAN và Trung Quốc. Đặc biệt, là việc cam kết là việc đề ra các biện pháp cụ thể để đảm bảo tuân thủ DOC, nhất là điều 5 của DOC về kiềm chế, không có hành động làm phức tạp thêm, gia tăng căng thẳng, hay thay đổi nguyên trạng ở Biển Đông, cũng như việc đẩy mạnh thương lượng giữa ASEAN- Trung Quốc để sớm đạt được Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC).

Qua đó, Thủy tướng Chính phủ nhấn mạnh Việt Nam ủng hộ việc duy trì và tăng cường hơn nữa tham vấn và đối thoại giữa hai bên về DOC và COC nhằm giải quyết các tranh chấp, đảm bảo an ninh trên Biến Đông

Continue Reading