Monthly Archives: Tháng Mười Một 2014

Quy định về giám định hàm lượng chất ma túy: Khó cũng phải làm

Báo Công lý ngày 21/11/2014 đã đăng bài “Quy định về giám định hàm lượng chất ma túy: Đảm bảo công bằng và quyền con người”. Chúng tôi xin trở lại vấn đề này với sự phân tích, lý giải rõ ràng hơn.

Nội dung bài báo trên đã đề cập nội dung quy định tại Công văn số 234/TANDTC-HS của TANDTC (gọi là Công văn 234) về việc bắt buộc giám định hàm lượng của các chất ma túy trong các chất thu giữ nghi là chất ma túy, lấy đó làm căn cứ kết tội các bị cáo theo quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự năm 1999 và cho rằng đây là quy định tiến bộ trong tố tụng hình sự, phù hợp với Hiến pháp. Sau khi Báo đăng, Tòa soạn nhận được nhiều ý kiến đồng tình của nhiều nhà khoa học, chuyên gia pháp lý, các Luật sư.

Trước tình hình tội phạm sản xuất, tàng trữ, buôn bán, sử dụng trái phép chất ma túy diễn biến phức tạp, ngày 24/12/2007, Bộ Công an – VKSNDTC – TANDTC- Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sau đây gọi tắt là Thông tư liên tịch số 17). Đây là một Thông tư liên tịch quan trọng nhằm góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc giải quyết các vụ án về ma túy.

Theo quy định tại Phần I, mục 1.4 của Thông tư liên tịch số 17 thì: “Trong mọi trường hợp khi thu giữ được các chất nghi là chất ma túy hoặc tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy thì đều phải trưng cầu giám định để xác định loại, hàm lượng, trọng lượng chất ma túy, tiền chất”.

Tuy nhiên qua công tác giám đốc việc xét xử, TANDTC thấy còn có nhiều trường hợp HĐXX chỉ căn cứ vào kết quả giám định về trọng lượng của các chất nghi là ma túy để kết tội các bị cáo, mà không yêu cầu xác định hàm lượng chất ma túy trong các chất thu được đó, như vậy là áp dụng không đúng quy định của Bộ luật Hình sự và hướng dẫn tại Thông tư liên ngành, dẫn đến hậu quả có thể xét xử bị oan sai.

Giám định hàm lượng chất ma túy nhằm bảo đảm quyền con người, tránh oan sai

Giám định hàm lượng chất ma túy nhằm bảo đảm quyền con người, tránh oan sai

Để khắc phục tình trạng này, ngày 17/9/2014, TANDTC ban hành Công văn số 234/TANDTC-HS yêu cầu TAND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, TAND các huyện, quận, thị xã thuộc tỉnh, Tòa án quân sự các cấp cần quán triệt và triển khai thực hiện đúng hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 17, đó là khi xét xử các vụ án phạm tội về ma túy thì phải có kết quả trưng cầu giám định hàm lượng ma túy trong các chất thu giữ được nghi là ma túy, từ đó xác định đúng trọng lượng chất ma túy để kết tội các bị cáo. Yêu cầu này của TANDTC là chấp hành theo đúng Hướng dẫn của Thông tư liên tịch số 17 mà 4 cơ quan Trung ương đã ký để làm căn cứ cho Tòa án kết tội các bị cáo bảo đảm khách quan, chính xác.

Tuy nhiên có một số quan điểm, ý kiến không đồng tình, cho rằng quy định như vậy làm “bó tay” cơ quan tiến hành tố tụng bởi việc giám định hàm lượng chất ma túy là khó khăn, kéo dài. Có ý kiến từ một số cơ quan tố tụng địa phương phản ánh những khó khăn, vướng mắc khi thực hiện và đề nghị hủy bỏ quy định giám định hàm lượng với lý do Bộ Công an không có đủ máy móc, phương tiện kỹ thuật và con người để thực hiện giám định hàm lượng chất ma túy v.v…

Theo Thạc sỹ Đinh Công Tuấn, Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp: Trên thực tế, nội dung Công văn số 234 TANDTC-HS ngày 17/9/2014 của TANDTC không phải là quy định mới mà chỉ là để triển khai thực hiện quy định của Thông tư liên tịch số 17, trong đó có quy định “Trong mọi trường hợp khi thu giữ được các chất nghi là chất ma túy hoặc tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy thì đều phải trưng cầu giám định hàm lượng”. Như vậy TANDTC cũng chỉ một lần nữa nhắc lại yêu TAND và Tòa án quân sự các cấp quán triệt và triển khai thực hiện đúng hướng dẫn tại Thông tư liên tịch mà các cơ quan Bộ Công an-VKSNDTC-TANDTC và Bộ Tư pháp đã ký.

Thông tư số 17 cũng như Công văn số 234 ngày 17/9/2014 của TANDTC đã nhận được nhiều ý kiến đồng tình không những của các cán bộ cơ quan tiến hành tố tụng, mà cả ý kiến của cơ quan chuyên môn, trong đó có Bộ Y tế.

Mới đây nhất, ngày 25/11/2014, Cục Quản lý Dược – Bộ Y tế có Công văn số 20542/QLD-KD gửi TANDTC nói rõ: “Chất ma túy cần được xác định và phân loại khác nhau vì trong Danh mục các chất ma túy do Ủy ban kiểm soát ma túy quốc tế cũng như danh mục các chất ma túy do Chính phủ ban hành kèm theo Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 bao gồm nhiều loại chất ma túy khác nhau, mỗi loại có cấu tạo, thành phần, mục đích sử dụng khác nhau, từ đó có các biện pháp quản lý, kiểm soát phù hợp cũng như xử lý theo các mức độ khác nhau, ví dụ: Điều 194 BLHS quy định tội tràng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy trong một khung hình phạt: Heroin hoặc Cocain có trọng lượng từ 5gam đến dưới 30gam nhưng các chất ma túy khác ở thể rắn khác có trọng lượng từ 20mg đến dưới 100mg…

Thông tư liên tịch số 17 quy định việc cần phải xác định hàm lượng của chất ma túy vì hàm lượng của một chất là lượng của một chất chứa trong một hỗn hợp hoặc trong một chất nào đó. Ví dụ: trọng lượng vàng có chứa trong khối mỏ quặng sẽ khác với trọng lượng toàn bộ khối mỏ quặng đó. Các thuốc gây nghiện, thuốc hướng tâm thần dùng để chữa bệnh cũng vậy: hàm lượng của chất gây nghiện có trong thuốc khác với trọng lượng của viên thuốc.

Như vậy, việc xác định loại ma túy, hàm lượng và trọng lượng của từng chất ma túy là cần thiết vì như vậy ta xác định chính xác số lượng chất gây nghiện, chất hướng tâm thần chứa trong đó. Ta không thể xét xử kẻ phạm tội sản xuất buôn bán, tàng trữ gói 1kg chất ma túy có chứa 2% chất ngây nghiện (tương đương 20mg chất gây nghiện) giống như gói 1kg (1.000 gam) chất gây nghiện hàm lượng 100% chất gây nghiện, vì Điều 194 BLHS quy định tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy có các khung hình phạt khác nhau cho người tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy ở thể rắn có trọng lượng từ 20gam đến dưới 100gam, từ 100gam đến dưới 300 gam, từ 300gam trở lên”.

Để tiếp tục thực hiện Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP, ngày 14/10/2014, Lãnh đạo liên ngành Trung ương TANDTC, VKSNDTC, Bộ Công an đã họp với với sự có mặt các đơn vị chức năng của các cơ quan và đại diện Bộ Y tế do Đồng chí Trương Hòa Bình, Bí thư Trung ương Đảng, Chánh án TANDTC chủ trì.

Sau khi nghe ý kiến trao đổi, thảo luận của đại diện lãnh đạo và các đơn vị chức năng, Chánh án Trương Hòa Bình tổng hợp các ý kiến và sơ bộ kết luận: Quy định của Bộ luật Hình sự và hướng dẫn liên ngành tại Thông tư liên tịch số 17 là rất chặt chẽ và cụ thể. Công văn số 234/TANDTC-HS ngày 17/9/2014 yêu cầu các TAND thực hiện đúng quy định tại tiểu mục 1.4, mục 1, phần 1 của Thông tư 17 là đúng đắn và cần thiết để tránh oan sai khi xét xử. Giám định hàm lượng chất ma túy là rất quan trọng để xác định khung hình phạt, đặc biệt là những vụ án có mức hình phạt tử hình, liên quan đến sinh mạng con người, liên quan đến vấn đề quốc tế, đến trách nhiệm của Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra, các ngành, đơn vị khác.

“Do đó, phải thực hiện nghiêm túc các quy định hướng dẫn của Bộ luật Hình sự và Thông tư liên tịch số 17, đó là việc giám định hàm lượng chất ma túy là bắt buộc đối với các chất thu giữ được nghi là chất ma túy, để từ đó xác định trọng lượng chất ma túy làm căn cứ xử phạt bị cáo…” – Chánh án Trương Hòa Bình khẳng định.

Chúng tôi cho rằng thực tế hiện nay đang có khó khăn, lúng túng trong việc giám định hàm lượng chất ma túy. Tuy nhiên Việt Nam hiện đã tham gia các Công ước quốc tế về quyền con người, bởi vậy trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử luôn phải đảm bảo sự công bằng và vì quyền con người. Quy định về giám định hàm lượng chất ma túy tại Thông tư liên tịch số 17 của liên ngành tư pháp Trung ương và Công văn số 234 của TANDTC là hoàn toàn phù hợp. Không thể lấy những khó khăn về máy móc, phương tiện kỹ thuật và con người làm lý do để không thực hiện quy định tại Thông tư liên tịch số 17. Bởi lẽ với sự phối hợp của các ngành liên quan, sự quan tâm, đầu tư của Nhà nước để thực hiện cải cách tư pháp thì khó khăn trên sẽ từng bước được giải quyết. Đặc biệt chỉ có xác định được hàm lượng chất ma túy trong số ma túy thu giữ được thì Tòa án mới có thể tuyên một bản án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đây là một quy định tiến bộ, bảo đảm quyền con người, và để tránh xét xử oan sai, khó cũng phải làm!

Continue Reading

Tổng Bí thư gặp mặt cộng đồng người Việt Nam tại Belarus

Trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Cộng hòa Belarus, tối 26/11 (theo giờ địa phương), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã gặp mặt thân mật cán bộ, nhân viên Đại sứ quán và bà con người Việt tại Belarus.

Tổng Bí thư gặp mặt cộng đồng người Việt Nam tại Belarus

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chụp ảnh chung với với cán bộ, nhân viên Đại sứ quán và đại diện cộng đồng người Việt tại Belarus.

Tổng Bí thư đã dành thời gian lắng nghe tâm tư nguyện vọng của bà con, những kiến nghị, đề xuất đối với Đảng, Nhà nước nhằm đưa đất nước tiếp tục phát triển bền vững.

Tuy sống xa Tổ quốc, nhưng đa số bà con luôn quan tâm theo dõi tình hình ở trong nước và vui mừng nhận thấy đất nước ngày càng đổi mới, phát triển; luôn hướng về cội nguồn dân tộc, gìn giữ ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam.

Tổng Bí thư vui mừng được biết bà con người Việt ở Belarus đều ổn định cuộc sống, có những đóng góp tích cực cho nước sở tại, đồng thời luôn hướng về quê hương đất nước; khẳng định chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn coi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và tạo điều kiện thuận lợi để cộng đồng người Việt ta ổn định cuộc sống, hòa nhập xã hội sở tại, và hướng về quê hương đất nước.

Tổng Bí thư cho biết, trong chuyến thăm chính thức Cộng hòa Belarus lần này, phía bạn đã dành cho Đoàn sự đón tiếp rất trọng thị, chân thành và chu đáo, với nghi thức lễ tân cao nhất, thể hiện bạn thực sự coi trọng vai trò, vị thế của Việt Nam, ưu tiên phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác với Việt Nam trong chính sách đối ngoại ở khu vực châu Á.

Thông báo một số nét về tình hình đất nước, về những kết quả đáng khích lệ mà toàn Đảng, toàn dân Việt Nam đã đạt được trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Tổng Bí thư mong muốn cộng đồng người Việt Nam ở Belarus luôn đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, vừa hòa nhập vào xã hội sở tại, vừa giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phẩm chất cốt cách của người Việt Nam, luôn ghi nhớ mình là người Việt Nam, mang dòng máu Lạc Hồng, đồng thời phát huy vai trò cầu nối hữu nghị giữa Việt Nam và Belarus.

Tổng Bí thư đánh giá cao kết quả các mặt công tác của Đại sứ quán Việt Nam tại Belarus, mặc dù số lượng cán bộ, nhân viên ít, nhưng đã phát huy tinh thần trách nhiệm, nỗ lực cố gắng hoàn thành nhiệm vụ được giao, góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy quan hệ Việt Nam-Belarus; bảo vệ quyền lợi chính đáng của cộng đồng người Việt Nam ở nước sở tại.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng mong muốn cán bộ, nhân viên Đại sứ quán Việt Nam tại Belarus tiếp tục cố gắng, làm tốt hơn nữa công tác cộng đồng, đồng thời góp phần vun đắp, phát triển quan hệ hữu nghị truyền thống, hợp tác nhiều mặt giữa hai nước./.

Continue Reading

Thu hồi quyền sử dụng đất của ông Trần Văn Truyền

Chiều 26/11, ông Nguyễn Tấn Quyên, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã họp với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bến Tre để thông báo Kết luận kiểm tra về thực hiện chính sách nhà, đất đối với ông Trần Văn Truyền và kế hoạch kiểm điểm ông Truyền trong thời gian tới.

Thu hồi quyền sử dụng đất của ông Trần Văn Truyền

Thu hồi quyền sử dụng đất của ông Trần Văn Truyền

Dự buổi làm việc Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bến Tre có mặt 10/16 thành viên gồm: Nguyễn Thành Phong, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy; Võ Thành Hạo, Phó Bí thư, Chủ tịch UBND tỉnh; Phan Văn Mãi, Phó Bí thư Tỉnh ủy; các Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy và ông Trần Văn Truyền. 

Theo đó Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Ban Bí thư yêu cầu: Đối với ông Trần Văn Truyền, kiểm điểm trách nhiệm theo qui trình về các khuyết điểm, vi phạm về thực hiện chính sách nhà, đất nêu trên trước Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bến Tre và Ủy ban Kiểm tra Trung ương. Yêu cầu các thành viên trong gia đình ông Trần Văn Truyền thực hiện nghiêm các quyết định xử lý về nhà, đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Đối với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bến Tre, thực hiện qui trình kiểm điểm, xử lý trách nhiệm đối với ông Trần Văn Truyền về những khuyết điểm, vi phạm nêu trên. Chỉ đạo các cơ quan chức năng thu hồi dứt điểm thửa đất tại số 598B5 Nguyễn Thị Định, phường Phú Khương, thành phố Bến Tre theo qui định của pháp luật. Chỉ đạo kiểm điểm trách nhiệm các tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc chậm thực hiện kết luận của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc thu hồi thửa đất nói trên và việc cải tạo, sửa chữa, bán nhà số 06 Lê Quí Đôn, thành phố Bến Tre.

Đến thời điểm này, UBND tỉnh Bến Tre đã ra Quyết định số 2312/QĐ – UBND do Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre Võ Thành Hạo ký ngày 19/11/2014, nhằm thu hồi Quyết định số 2806/QĐ – UB ngày 19/8/2002 của UBND tỉnh Bến Tre về việc công nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Trần Văn Truyền để làm nhà ở, tức thửa đất tại số 598B5 Nguyễn Thị Định, phường Phú Khương, thành phố Bến Tre.

Continue Reading

Quan hệ Việt – Nga phát triển thành công

Vào hồi 8 giờ sáng 26/11 (theo giờ địa phương), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã rời thành phố Sochi, kết thúc tốt đẹp chuyến thăm chính thức LB Nga theo lời mời của Tổng thống Vladimir Putin.

Trong những ngày vừa qua, tin tức thời sự trong nước được nhân dân quan tâm nhất là chuyến thăm từ ngày 23-26/11 của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng  hội đàm với Tổng thống Vladimir Putin; hội kiến Thủ tướng Dmitry Medvedev, Chủ tịch Hội đồng Liên bang V. Matvienko, Quyền Chủ tịch Đuma Quốc gia LB Nga I.Melnikov; gặp gỡ các cựu chiến binh, chuyên gia Nga từng làm việc tại Việt Nam và đại diện Hội Hữu nghị Nga – Việt.

Ngày 25/11, tại khu dinh thự của Tổng thống Liên bang Nga tại thành phố Sochi, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có cuộc hội đàm với Tổng thống Vladimir Putin.

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng thống Putin đã nhất trí đề ra các biện pháp cụ thể nhằm đẩy mạnh hơn nữa quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa hai nước, trước mắt là triển khai hiệu quả Danh mục các nhiệm vụ ưu tiên năm 2014 và sớm thống nhất Danh mục năm 2015; thực hiện tốt Kế hoạch tổ chức chương trình kỷ niệm các ngày lễ lớn của hai nước trong năm 2015, trong đó có kỷ niệm 65 năm Ngày hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao.

hoi-dam-vietnam-LBNga

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng thống Vladimir Putin

“Quan hệ giữa Nga và Việt Nam phát triển thành công. Chúng tôi đang duy trì các mối quan hệ ở cấp cao”, Itar-Tass dẫn lời ông Putin nói trong cuộc tiếp Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng hôm qua tại Sochi. Ông Putin cho rằng chuyến thăm của ông Trọng tới Nga lần này sẽ thúc đẩy hơn nữa hợp tác giữa hai nước.

Tổng bí thư khẳng định chính sách nhất quán của Việt Nam là luôn coi trọng, mong muốn củng cố, thúc đẩy hơn nữa quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Nga, coi Nga là một trong những đối tác quan trọng, tin cậy hàng đầu của Việt Nam, trang web của chính phủ Việt Nam cho biết. Ông cũng nói thêm một trong các mục tiêu chính của chuyến làm việc tại Nga là nhằm chuẩn bị các biện pháp để nâng quan hệ lên tầm cao mới, Itar-Tasstrích dẫn.

Kết thúc hội đàm, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng thống V.Putin đã chứng kiến Lễ ký 9 văn kiện hợp tác giữa hai nước, trong đó có Hiệp định giữa Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam và Chính phủ Liên bang Nga về đối tác chiến lược trong lĩnh vực giáo dục, khoa học và công nghệ; Hiệp định giữa Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam và Chính phủ Liên bang Nga về hợp tác trong lĩnh vực liên lạc, công nghệ thông tin và thông tin đại chúng; Kế hoạch hành động chung về hợp tác giữa Tổng cục Hải quan nước CHXHCN Việt Nam và Cơ quan Hải quan Liên bang Nga nhằm chống lại các vi phạm hải quan giai đoạn 2014-2016; Bản Ghi nhớ về hợp tác trong lĩnh vực thể dục thể thao giữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nước CHXHCN Việt Nam và Bộ Thể thao Liên bang Nga và một số thỏa thuận hợp tác về dầu khí.

Hai bên cũng đã ra Tuyên bố chung về tiếp tục tăng cường quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Nga.

TBT-Nguyen-Phu-Trong

Tổng thống Liên bang Nga Vladimir Putin đón Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Sáng 26/11 (theo giờ địa phương), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã rời thành phố Sochi, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã gửi điện cảm ơn Tổng thống Putin. Toàn văn bức điện như sau:

“Tôi và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam rời thành phố Sochi tươi đẹp, kết thúc tốt đẹp chuyến thăm chính thức Liên bang Nga với những tình cảm và ấn tượng sâu sắc về đất nước và con người Nga vĩ đại đang phát triển mạnh mẽ. Tôi xin gửi tới Ngài Tổng thống, các nhà Lãnh đạo và nhân dân Nga lời cảm ơn về sự đón tiếp nồng hậu, trọng thị, chân thành dành cho tôi và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam.

Chúng tôi tin tưởng rằng, kết quả rất tích cực của chuyến thăm lần này, nhất là Tuyên bố chung giữa hai nước Việt Nam – Liên bang Nga là cơ sở củng cố và làm sâu sắc hơn nữa, đưa quan hệ hữu nghị truyền thống, đối tác chiến lược toàn diện giữa Việt Nam và Liên bang Nga lên tầm cao mới và hiệu quả hơn, tương xứng với tiềm năng và nguyện vọng của nhân dân hai nước, vì lợi ích, tương lai tốt đẹp của nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương và trên thế giới.

Tôi mang theo những ấn tượng sâu sắc về đất nước và con người Nga nhân hậu, giàu lòng mến khách và niềm tin vững chắc về tương lai tốt đẹp của hai nước chúng ta.

Chúc Liên bang Nga không ngừng phát triển và phồn vinh, đạt được những thành tựu ngày càng to lớn trong công cuộc xây dựng và phát triển
đất nước!

Chúc quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Liên bang Nga ngày càng được tăng cường và phát triển tốt đẹp!

Chúc Ngài Tổng thống và các vị lãnh đạo Liên bang Nga sức khỏe và thành công trên cương vị cao cả của mình!”.

 

Continue Reading

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng gặp Thủ tướng Lào và Campuchia

Trong khuôn khổ Hội nghị cấp cao Campuchia-Lào-Việt Nam lần thứ 8 (CLV8) tại thủ đô Viêng Chăn (Lào), Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã có cuộc gặp với Thủ tướng Vương quốc Campuchia Samdech Techo Hun Sen.

thu-tuong-nguyen-tan-dung

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hội kiến với Thủ tướng Campuchia Samdech Hunsen.

Tại cuộc gặp, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng chúc mừng thành tựu to lớn, đáng tự hào mà nhân dân Campuchia dưới sự trị vì của Quốc vương Norodom Sihamoni và dưới sự lãnh đạo của Thượng viện, Quốc hội và Chính phủ Campuchia đã đạt được trong nhiều năm qua, đặc biệt là trong lĩnh vực phát triển kinh tế, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân Campuchia. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh ý nghĩa của Hội nghị cấp cao CLV và bày tỏ tin tưởng Việt Nam, Campuchia và Lào sẽ ngày càng hợp tác chặt chẽ trong phát triển kinh tế vì sự phồn vinh của nhân dân ba nước.

Trao đổi về quan hệ song phương, hai Thủ tướng khẳng định quyết tâm thúc đẩy quan hệ hai nước phát triển, duy trì tiếp xúc cấp cao và trao đổi đoàn các cấp, đẩy mạnh hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư. Hai Thủ tướng nhất trí sẽ quan tâm chỉ đạo, phấn đấu nâng kim ngạch thương mại hai nước lên mức 5 tỷ USD vào năm 2015.  Hai bên nhất trí tiếp tục hợp tác chặt chẽ trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng; tái khẳng định nguyên tắc không cho phép bất cứ lực lượng thù địch nào sử dụng lãnh thổ của nước này làm phương hại đến an ninh và can thiệp vào công việc nội bộ của nước kia.

Hai Thủ tướng đánh giá cao những nỗ lực của cơ quan chức năng hai bên trong công tác phân giới cắm mốc biên giới đất liền giữa hai nước thời gian qua; đồng thời khẳng định quyết tâm của Chính phủ hai nước nhằm sớm hoàn thành công tác này, góp phần xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định và phát triển giữa hai nước.

Hai bên nhất trí tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi và dành sự đối xử bình đẳng cho kiều dân của nhau như đối với ngoại kiều khác ở mỗi nước; đánh giá cao sự hợp tác của Chính phủ Vương quốc Campuchia trong việc đảm bảo các quyền hợp pháp của cộng đồng người Việt Nam tại Campuchia sinh sống và làm ăn bình thường như những ngoại kiều khác ở Campuchia.

Hai bên cũng trao đổi ý kiến về các vấn đề khu vực và quốc tế mà hai bên cùng quan tâm và khẳng định tiếp tục hợp tác với nhau trong khuôn khổ đa phương như Liên hợp quốc, ASEAN và các cơ chế hợp tác khác ở khu vực và tiểu vùng.

* Nhân dịp này, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã có cuộc hội kiến với Thủ tướng Chính phủ Lào Thongsing Thammavong nhằm trao đổi những biện pháp thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ hợp tác giữa hai nước trong thời gian tới.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bày tỏ vui mừng dẫn đầu đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sang dự Hội nghị CLV-8, tin tưởng thành công của Hội nghị sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của Khu vực Tam giác Phát triển. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chúc mừng những thành tựu to lớn mà Đảng, Chính phủ, nhân dân Lào đã đạt được trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

thu-tuong-nguyen-tan-dung-gap-thu-tuong-lao

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hội kiến với Thủ tướng Lào Thongsing Thammavong

Thủ tướng Lào Thongsing Thammavong đánh giá cao việc Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và đoàn đại biểu Việt Nam sang tham dự Hội nghị CLV-8; chân thành cảm ơn Đảng, Nhà nước, Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã luôn dành sự ủng hộ và giúp đỡ vô cùng to lớn, quý báu, hiệu quả cho đất nước và nhân dân Lào.

Trao đổi về quan hệ song phương, hai Thủ tướng vui mừng nhận thấy quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa hai nước ngày càng phát triển, đi vào chiều sâu, thiết thực và hiệu quả trên tất cả các lĩnh vực hợp tác. Hai Thủ tướng đánh giá cao việc các bộ, ngành và địa phương hai bên đã phối hợp chặt chẽ để triển khai thực hiện tốt kết quả Kỳ họp lần thứ 36 của Ủy ban Liên Chính phủ Việt Nam – Lào và đang tích cực chuẩn bị cho Kỳ họp lần thứ 37 của Ủy ban trong đầu năm 2015. Hai Thủ tướng nhất trí hai bên sẽ tiếp tục phối hợp để triển khai các dự án mang tính kết nối chiến lược giữa hai nước.

Hai Thủ tướng bày tỏ hài lòng về những bước phát triển mới trong hợp tác giữa hai nước, nhất là trong các lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư; vui mừng về kim ngạch thương mại song phương hai nước dự kiến sẽ đạt mức 1,5 tỷ USD trong năm 2014. Hai bên khẳng định sẽ tiếp tục quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp hai nước trong hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư; đồng thời nhất trí cần sớm hoàn tất việc ký kết đàm phán và ký Hiệp định Thương mại mới Việt Nam – Lào, tạo khuôn khổ pháp lý để hai bên phấn đấu đạt mục tiêu kim ngạch 2 tỷ USD vào năm 2015.

Thủ tướng Lào Thongsing Thammavong cảm ơn và đánh giá cao Chính phủ và nhân dân Việt Nam trong bối cảnh khó khăn chung nhưng Việt Nam vẫn ưu tiên dành viện trợ phát triển (ODA) cho Lào với mức tăng trung bình hàng năm 10%; khẳng định Chính phủ Lào sử dụng nguồn vốn này hiệu quả nhất. Nhấn mạnh hợp tác trong lĩnh vực giáo dục đào tạo là một lĩnh vực quan trọng trong hợp tác đặc biệt Việt-Lào, Thủ tướng Thongsing Thammavong cũng cảm ơn Chính phủ Việt Nam đã tăng thêm học bổng cho học sinh, sinh viên Lào sang học tập tại Việt Nam.

Nhân dịp này, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã cảm ơn Chính phủ Lào thời gian qua đã tạo điều kiện để cộng đồng người Việt ở Lào được ổn định sinh sống, học tập và làm ăn tại Lào và đề nghị Chính phủ Lào tạo thuận lợi hơn nữa để bà con người Việt đã cư trú lâu năm tại Lào được nhập quốc tịch Lào và hòa nhập vào đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của Lào.

Hai Thủ tướng cũng trao đổi về một số vấn đề khu vực cùng quan tâm và khẳng định hai bên sẽ tiếp tục hợp tác chặt chẽ với nhau trong Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và các cơ chế hợp tác khác ở khu vực và tiểu vùng.

Continue Reading

Quốc hội thông qua NQ về việc thi hành Luật Tổ chức TAND (sửa đổi)

Chiều 24/11, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật Tổ chức TAND (sửa đổi) với 415/426 đại biểu tán thành (đạt tỷ lệ 83,5%). Với tỷ lệ phiếu tán thành này, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về việc thi hành Luật Tổ chức TAND (sửa đổi).

luat-to-chuc-tand-sua-doi

Ông Nguyễn Văn Hiện, Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội trình bày Báo cáo giải trình tiếp thu, chỉnh lý Dự thảo Luật Tổ chức TAND (sửa đổi)

Được sự phân công của Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu, ông Nguyễn Văn Hiện, Uỷ viên Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH), Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội đã trình bày Báo cáo giải trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Tổ chức TAND (sửa đổi) trình Quốc hội thông qua.

Báo cáo nêu rõ, ngày 27/10/2014, tại Hội trường Quốc hội, các đại biểu Quốc hội (ĐBQH) đã thảo luận, cho ý kiến về dự thảo Luật Tổ chức TAND (sửa đổi). Trên cơ sở ý kiến ĐBQH, kết quả xin ý kiến các vị ĐBQH (bằng phiếu) về một số nội dung quan trọng, còn ý kiến khác nhau của dự thảo Luật, ý kiến đóng góp của các vị ĐBQH về dự thảo Nghị quyết thi hành Luật, UBTVQH đã tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật và dự thảo Nghị quyết trình Quốc hội xem xét.

quo-hoi-khoa-8

Quốc hội biểu quyết thông qua Luật Tổ chức TAND (sửa đổi)

Dưới đây là 7 vấn đề mà UBTVQH đã chỉnh lý, tiếp thu:

Một là, về quy định Tòa án thực hiện quyền tư pháp (Điều 2)

Có ý kiến đề nghị chỉnh lý điểm c khoản 3 theo hướng quy định Tòa án có thẩm quyền điều tra để thu thập chứng cứ trong vụ án hình sự nếu xét thấy cần thiết.

Về vấn đề này, UBTVQH cho rằng: Theo quy định của Hiến pháp năm 2013, Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trong tố tụng hình sự, TAND thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS). Dự thảo Luật không quy định Tòa án có chức năng, nhiệm vụ “điều tra để thu thập chứng cứ” như Cơ quan điều tra (CQĐT) hay Viện kiểm sát (VKS) là phù hợp với quy định của Hiến pháp, tránh chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ của TAND với CQĐT và VKS. Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới cũng như vậy. Theo quy định của BLTTHS, Tòa án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo. Vì vậy, bổ sung quy định Tòa án có quyền thu thập, bổ sung chứng cứ khi xét thấy cần thiết theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định là hợp lý. Tiếp thu ý kiến của ĐBQH, UBTVQH đã chỉnh lý điểm c khoản 3 Điều này như sau: “Khi xét thấy cần thiết, trả hồ sơ yêu cầu VKS điều tra bổ sung; yêu cầu VKS bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc tự mình thu thập, bổ sung chứng cứ theo quy định của BLTTHS”.

Hai là, về nguyên tắc TAND xét xử kịp thời, công bằng, công khai (Điều 11)

Có ý kiến đề nghị xem lại quy định tại khoản 2 Điều 11 của dự thảo Luật bảo đảm phù hợp với quy định của Hiến pháp. Tiếp thu ý kiến của ĐBQH, UBTVQH đã chỉ đạo chỉnh lý lại khoản 2 Điều 11 cho phù hợp: “TAND xét xử công khai. Trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên hoặc giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự thì TAND có thể xét xử kín”.

Ba là, về tổ chức Ủy ban Thẩm phán TAND cấp tỉnh (Điều 39)

Có một số ý kiến đề nghị ở TAND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cần có Ủy ban Thẩm phán.

Về vấn đề này, UBTVQH đã chỉ đạo gửi phiếu xin ý kiến của ĐBQH. Kết quả có 153/373 (44,7%) phiếu đồng ý quy định TAND cấp tỉnh không có Ủy ban Thẩm phán; có 189/373 (55,3%) phiếu đồng ý quy định tại TAND cấp tỉnh có Ủy ban Thẩm phán.

Tiếp thu ý kiến đã nhận được của đa số ĐBQH, UBTVQH đã chỉ đạo chỉnh lý quy định tại khoản 2 Điều 39 của dự thảo Luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban Thẩm phán TAND cấp tỉnh như sau: “Ủy ban Thẩm phán TAND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương họp do Chánh án chủ trì: 

a) Thảo luận về việc thực hiện chương trình, kế hoạch công tác TAND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

b) Thảo luận Báo cáo công tác của Chánh án TAND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với TANDTC và Hội đồng nhân dân cùng cấp;

c) Tổng kết kinh nghiệm xét xử;

d) Thảo luận về kiến nghị của Chánh án TAND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đề nghị Chánh án TAND cấp cao,Chánh án TANDTC xem xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo yêu cầu của Chánh án”.

Bốn là, về thẩm quyền của UBTVQH thành lập TAND cấp huyện, TAND cấp tỉnh, TAND cấp cao và Tòa án quân sự (Điều 4)

Có ý kiến cho rằng UBTVQH không có thẩm quyền thành lập, tổ chức TAND  như quy định tại Điều 4 của dự thảo Luật. Vì thẩm quyền này của Quốc hội quyết định.

UBTVQH cho rằng khoản 6 Điều 70 của Hiến pháp năm 2013 quy định: Quốc hội có quyền hạn quy định tổ chức và hoạt động của TAND, VKSND. Điều 3 dự thảo Luật quy định tổ chức TAND gồm có TANDTC, các TAND cấp cao, TAND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương và các Tòa án quân sự nhằm thể chế hóa quy định của Hiến pháp năm 2013. Để cụ thể hóa quy định tại Điều 3, trong các trường hợp cụ thể, dự thảo Luật giao thẩm quyền cho UBTVQH như quy định tại Điều 4 là phù hợp, đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Mặt khác, việc thành lập các Tòa án nêu trên đều liên quan đến tổ chức, biên chế, số lượng Thẩm phán của mỗi Tòa án. Những vấn đề này thuộc thẩm quyền quyết định của UBTVQH. Khi UBTVQH quyết định thành lập Tòa án thì đồng thời quyết định cả về tổ chức, biên chế… của Tòa án đó. Quy định này kế thừa quy định của Luật Tổ chức TAND hiện hành. Vì vậy, UBTVQH đề nghị giữ như quy định của dự thảo Luật.

Năm là, về nhiệm vụ phát triển án lệ của TANDTC (điểm c khoản 2 Điều 22)

Vấn đề này đã được UBTVQH giải trình trong Báo cáo số 748/BC-UBTVQH13 ngày 16/10/2014: Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, án lệ không phải là nguồn luật. Án lệ được Hội đồng Thẩm phán TANDTC tổng kết, phát triển từ các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, có tính chuẩn mực của các Tòa án và công bố để cho các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử. Tiếp thu ý kiến của ĐBQH, UBTVQH đã chỉ đạo chỉnh lý quy định tại điểm c khoản 2 Điều 22 của dự thảo Luật.

Sáu là, về điều kiện bổ nhiệm Thẩm phán và Hội đồng tuyển chọn, giám sát Thẩm phán quốc gia; Hội đồng thi tuyển chọn Thẩm phán (các Điều 68, 69 và 73)

Có ý kiến đề nghị quy định theo hướng Thẩm phán trước khi được bổ nhiệm vào ngạch cao hơn phải trải qua kỳ thi nâng ngạch để phù hợp với pháp luật cán bộ, công chức; có ý kiến đề nghị không áp dụng việc thi tuyển vào ngạch Thẩm phán TANDTC.

Về vấn đề này, UBTVQH đã chỉ đạo xin ý kiến các vị ĐBQH bằng phiếu. Qua tổng hợp phiếu xin ý kiến của ĐBQH về việc Thẩm phán phải qua kỳ thi nâng ngạch để được bổ nhiệm Thẩm phán ở ngạch cao hơn thì có 269/373 phiếu tán thành, chiếm tỷ lệ 84,8%; có 53/373 phiếu không tán thành, chiếm tỷ lệ 15,2%.

Trên cơ sở ý kiến của ĐBQH, UBTVQH nghiên cứu, cân nhắc kỹ và thấy rằng ý kiến của đa số ĐBQH đề nghị áp dụng việc thi tuyển, thi nâng ngạch đối với các Thẩm phán là cần thiết để bảo đảm vừa đánh giá được năng lực, trình độ, vừa đánh giá được đạo đức, phẩm chất của Thẩm phán. Tuy nhiên việc thi tuyển, thi nâng ngạch nên áp dụng trong trường hợp bổ nhiệm Thẩm phán sơ cấp, nâng ngạch đối với Thẩm phán sơ cấp lên Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán trung cấp lên Thẩm phán cao cấp; còn đối với Thẩm phán TANDTC là những chuyên gia giàu kinh nghiệm trong xét xử, được chọn lọc, thi tuyển qua nhiều ngạch Thẩm phán từ thấp lên cao thì tiếp tục áp dụng việc tuyển chọn như quy định hiện hành. Vì vậy, tiếp thu ý kiến ĐBQH, UBTVQH đã chỉnh lý dự thảo Luật để quy định về điều kiện bổ nhiệm Thẩm phán sơ cấp, Thẩm phán trung cấp và Thẩm phán cao cấp (Điều 68); về điều kiện bổ nhiệm Thẩm phán TANDTC (Điều 69) và Hội đồng thi tuyển chọn Thẩm phán sơ cấp, Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán cao cấp (Điều 73).

Bảy là, về nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án quân sự (Điều 49)

Trên cơ sở ý kiến của ĐBQH qua phiếu xin ý kiến ĐBQH thì có 194/373 (56,6%) phiếu đồng ý phương án chỉ quy định về nguyên tắc “Tòa án quân sự được tổ chức trong quân đội nhân dân Việt Nam để xét xử những vụ án hình sự theo quy định của BLTTHS và thực hiện những nhiệm vụ khác theo quy định của luật”. Có 149/373 phiếu (43,4%) tán thành quy định theo phương án 2 của dự thảo Luật. Do số phiếu tán thành nhận được không đạt quá bán so với tổng số ĐBQH, UBTVQH đã nghiên cứu và nhận thấy đây là vấn đề phức tạp, còn nhiều ý kiến khác nhau cần phải được cân nhắc kỹ bảo đảm đúng với chủ trương của Đảng đã được nêu trong Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị: “Nghiên cứu, xác định hợp lý phạm vi thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự theo hướng chủ yếu xét xử những vụ án về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, những vụ án liên quan đến bí mật quân sự…”. Vì vậy, UBTVQH đề nghị tiếp tục kế thừa quy định tại khoản 1 Điều 34 của Luật Tổ chức TAND hiện hành về nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án quân sự để quy định trong dự thảo Luật này; việc quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án quân sự sẽ do BLTTHS quy định. Do đó, UBTVQH đề nghị  được thể hiện như quy định tại Điều 49 của dự thảo Luật.

Như vậy, Luật Tổ chức TAND (sửa đổi) trình Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 8 có 11 Chương, 93 Điều đã được thông qua.

Continue Reading

Tăng mức phạt xe quá trọng tải từ 1/1/2015

Chính phủ vừa ban hành NĐ sửa đổi một số điều của NĐ 171/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt. Theo đó sẽ tăng mức phạt đối với hành vi điều khiển xe chở hàng vượt trọng tải.

Tăng mức phạt xe quá tọng tải từ ngày 1/1/2015

Hình minh họa

Theo quy định hiện đang áp dụng tại Nghị định 171/2013/NĐ-CP thì chỉ có 1 khung phạt từ 5-7 triệu đồng áp dụng đối với hành vi điều khiển xe chở hàng vượt trọng tải (khối lượng hàng chuyên chở) cho phép tham gia giao thông được ghi trong Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường trên 60% đối với xe có trọng tải dưới 5 tấn, trên 50% đối với xe có trọng tải từ 5 tấn trở lên (kể cả rơ moóc và sơ mi rơ moóc).

Còn theo Nghị định 107/2014/NĐ-CP vừa ban hành thì hành vi này được tách ra thành 2 khung phạt.

Cụ thể, ở khung phạt đầu tiên, mức phạt được giữ nguyên là từ 5-7 triệu đồng đối với hành vi điều khiển xe chở hàng vượt trọng tải (khối lượng hàng chuyên chở) cho phép tham gia giao thông được ghi trong Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường trên 60% đến 100% đối với xe có trọng tải dưới 5 tấn, trên 50% đến 100% đối với xe có trọng tải từ 5 tấn trở lên và xe xi téc chở chất lỏng (kể cả rơ moóc và sơ mi rơ moóc).

Ở khung phạt thứ hai, đối với hành vi điều khiển xe chở hàng vượt trọng tải trên 100% thì sẽ bị phạt tiền từ 7-8 triệu đồng, cao hơn mức phạt hiện đang áp dụng (từ 5-7 triệu đồng).

Phạt đến 8 triệu đồng nếu điều khiển xe vượt quá tải trọng cho phép của cầu

Tương tự, hành vi điều khiểm xe vượt quá tải trọng cho phép của cầu, đường cũng được Nghị định 107/2014/NĐ-CP tách thành 2 khung phạt.

Cụ thể, phạt tiền từ 5-7 triệu đồng đối với hành vi điều khiển xe mà tổng trọng lượng (khối lượng toàn bộ) cho phép tham gia giao thông của xe hoặc tải trọng trục xe (bao gồm cả hàng hóa xếp trên xe, người được chở trên xe) vượt quá tải trọng cho phép của cầu, đường trên 50% đến 100%, trừ trường hợp có Giấy phép lưu hành còn giá trị sử dụng.

Phạt tiền từ 7-8 triệu đồng đối với hành vi điều khiển xe mà tổng trọng lượng (khối lượng toàn bộ) cho phép tham gia giao thông của xe hoặc tải trọng trục xe (bao gồm cả hàng hóa xếp trên xe, người được chở trên xe) vượt quá tải trọng cho phép của cầu, đường trên 100%, trừ trường hợp có Giấy phép lưu hành còn giá trị sử dụng.

Ngoài bị phạt tiền, người điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm còn bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe (khi điều khiển ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự ô tô), chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật  về giao thông đường bộ (khi điều khiển xe máy chuyên dùng) 3 tháng.

Nghị định có hiệu lực từ 1/1/2015.

Continue Reading

Bộ LĐ-TB&XH trình Chính phủ 2 phương án nghỉ Tết âm lịch

Bộ LĐ-TB&XH đề xuất Chính phủ 2 phương án nghỉ Tết âm lịch 2015 trong 7 ngày và 9 ngày. Tờ trình của Bộ LĐ-TB&XH nêu rõ đối tượng áp dụng nghỉ Tết Âm lịch và hoán đổi ngày nghỉ là công chức, viên chức của các đơn vị có lịch nghỉ hàng tuần là 2 ngày Thứ Bảy và Chủ Nhật. Không áp dụng với doanh nghiệp và người dân nói chung.

Lịch nghỉ tết 2015

Ảnh minh họa

 

Cụ thể, đối với công chức, viên chức có lịch làm việc bình thường là Thứ Bảy thì không hoán đổi nên vẫn đi làm bình thường vào ngày Thứ Bảy.

Điều này nhằm đảm bảo việc giải quyết thủ tục hành chính theo Quyết định số 127/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức làm việc vào ngày Thứ Bảy hàng tuần để tiếp nhận thủ tục hành chính.

Trong tờ trình, Bộ LĐ-TB&XH đề xuất 2 phương án nghỉ Tết Âm lịch 2015, như sau:

Phương án 1: Công chức, viên chức nghỉ Tết Âm lịch từ ngày Thứ Ba, ngày17/2/2015 đến hết ngày thứ Bảy, ngày 21/2/2015, (tức là từ ngày 29 tháng Chạp năm Giáp Ngọ đến hết ngày mùng 3 tháng Giêng năm Ất Mùi) và nghỉ bù vào ngày Thứ Hai ngày 23/2/2015 (do ngày nghỉ hằng tuần thứ Bảy trùng vào ngày mùng ba Tết).

Về hoán đổi ngày nghỉ hằng tuần dịp nghỉ Tết Âm lịch, công chức, viên chức đi làm ngày Thứ Bảy, ngày 14/2/2015 để nghỉ Thứ Hai, ngày 16/2/2015.

Như vậy, dịp nghỉ Tết Âm lịch, công chức, viên chức sẽ nghỉ liền từ ngày 15/2/2015 đến hết ngày 23/2/2015, tổng số là ngày nghỉ của dịp này là 9 ngày liên tục gồm 4 ngày cuối năm Giáp Ngọ và 5 ngày đầu năm Ất Mùi.

Phương án 2: Công chức, viên chức nghỉ Tết Âm lịch từ Thứ Tư (18/2/2015) đến hết ngày Chủ Nhật, ngày 22/2/2015, (tức là từ ngày 30 tháng Chạp năm Giáp Ngọ tới hết ngày mùng 4 tháng Giêng năm Ất Mùi) và nghỉ bù vào thứ hai (ngày 23/2/2015), Thứ Ba (24/2/2015), do ngày nghỉ hằng tuần Thứ Bảy (21/2/2015) và Chủ Nhật (22/22015) trùng vào ngày mùng 3 và mùng 4 Tết.

Trường hợp này, ngày đi làm ngắt quãng là 2 ngày liên tục nên tác động tiêu cực của ngày đi làm không nhiều đồng thời việc thực hiện phương án hoán đổi 2 ngày hàng tuần vào dịp này sẽ phức tạp, gây nhiều xáo trộn, nên không hoán đổi ngày nghỉ hàng tuần vào dịp này.

Như vậy, dịp này sẽ nghỉ liền từ thứ Tư, 18/2 đến hết ngày thứ Ba, 24/2/2015 (tức là từ 30 tháng Chạp năm Giáp Ngọ đến hết mùng sáu tháng Giêng năm Ất Mùi). Tổng số ngày nghỉ của phương án 2 là 7 ngày liên tục với 1 ngày cuối năm Giáp Ngọ và 6 ngày đầu năm Ất Mùi.

Continue Reading

Cử tri đồng tình và phản hồi tích cực

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng khẳng định phiên chất vấn tại kỳ họp này đã thu được kết quả rất tốt, được đồng bào, cử tri cả nước đồng tình hưởng ứng và phản hồi tích cực.

Cử tri đồng tình và phản hồi tích cực

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trả lời chất vấn

Chủ tịch Quốc hội phát biểu kết luận về hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn những ngày qua, đã đánh giá: Các thành viên Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ, báo cáo trả lời chất vấn và trả lời chất vấn lần này cũng đã nói lên được quyết tâm chung của Chính phủ là phấn đấu thực hiện thắng lợi nhiệm vụ mà Quốc hội đã giao về kinh tế – xã hội, quốc phòng an ninh, đối ngoại, tư pháp, đặc biệt là nhiệm vụ của năm 2015. Quốc hội ghi nhận và cùng phối họp với Chính phủ phấn đấu hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ kinh tế – xã hội năm 2015.

Chủ tịch Quốc hội nhắc nhở nhiệm vụ đặt ra đối với một số Bộ trưởng. Đối với Bộ trưởng Bộ Công Thương trọng tâm là công nghiệp hỗ trợ, cơ khí chế tạo, xây dựng ngành công nghiệp tập trung cho các sản phẩm, công nghiệp phục vụ nông nghiệp, thúc đẩy sản phẩm nông nghiệp, phát triển sản phâm nông nghiệp, đồng thời đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả. Đó là những việc lớn mà Quốc hội yêu cầu Bộ trưởng Bộ Công Thương tiếp tục tổ chức thực hiện tốt.

Đối với Bộ trưởng Bộ Nội vụ là xây dựng đội ngũ công chức, rà soát đánh giá cho đúng chất lượng, đối với các giải pháp cần thiết để xây dụng đội ngũ cán bộ, công chức viên chức, tận tụy, phục vụ nhân dân một cách có hiệu quâ. Tất cả các giải pháp thực hiện đã trao đổi trong phiên chất vấn này. Thứ hai là chính sách, chế độ công vụ phục vụ nhân dân và phục vụ cho các ngành phát triển sản xuất, kinh doanh, thiết thực phát triển đất nước. Đồng thời, tiếp tục nghiên cứu để triển khai thực hiện đề án tiền lương, theo tinh thần đổi mới của Nghị quyết Trung ương phù hợp với tình hình phát triển kinh tế của đất nước. Chúng ta phải đổi mới gắn với việc giải quyết tiền lương, biên chế. Không giải quyết được biên chế, không giải quyết được tiền lương thì không thể nâng cao trình độ năng lực đội ngũ của chúng ta.

Đối với Bộ trưởng Bộ Giao thông – Vận tải, Quốc hội yêu cầu hai việc chính: Một là tiếp tục đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng giao thông một cách đồng bộ, cả đường sắt, đường bộ, đường thủy, đường biển, đường sông và đường hàng không. Mạng lưới giao thông được kết nối đồng bộ trên phạm vi cả nước và kết nối với mạng lưới giao thông quốc tế một cách thích hợp để phục vụ cho được sự phát triến đất nước. Với tinh thần đây là một khâu đột phá quan trọng. tiếp tục đấu tranh, tiếp tục có nhiều biện pháp tuyên truyền vận động, giải thích cũng như có biện pháp kỹ thuật cần thiết để giảm tai nạn giao thông. Mặc dù đã có nhiều thành tích trong mấy năm qua nhưng còn rất nghiêm trọng. Mỗi ngày chúng ta có 25 người tử nạn là điều đau xót chung. Yêu cầu là tiếp tục năm sau giảm hơn năm trước từ 5-10% cả số vụ tai nạn, số vụ người thiệt mạng và bị thương.

Với Bộ LĐTB&XH, vấn đề trọng tâm đồng thời là vấn đề chiến lược, vấn đề đột phá là đào tạo nguồn nhân lực đúng với tinh thần mà Thủ tướng vừa nói. Đề nghị Bộ LĐTB&XH tham mưu cho Chính phủ để có thể tiếp tục đổi mới cả về chương trình, cả về kế hoạch, tổ chức bộ máy, cả về tầm nhìn chiến lược, dự báo thị trường để có thể đảm bảo được trong những năm tới tạo chuyển biến tích cực về đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Là người chất vấn Thủ tướng Chính phủ về việc Trung Quốc đẩy mạnh hoạt động xây dựng trên các đảo thuộc Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam nhằm độc chiếm Biển Đông, đại biểu Quốc hội Lê Nam (Thanh Hóa) khẳng định: Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng trả lời rất hay. Thủ tướng Chính phủ đã khẳng định chủ quyền của chúng ta bị xâm hại và đối sách của Chính phủ, Nhà nước ta trong việc bảo vệ chủ quyền, nhất là trước những hành vi của Trung Quốc vừa rồi.

Ngoài đồng tình cao phần trả lời của Thủ tướng Chính phủ về vấn đề liên quan đến Biển Đông, đại biểu Lê Nam cũng bày tỏ sự đồng tình với trả lời của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về nhiều vấn đề khác mà đại biểu Quốc hội đã chất vấn trực tiếp tại hội trường.

Continue Reading

Chánh án TANDTC Trương Hòa Bình gửi thư chúc mừng Trường Cán bộ Tòa án

Bí thư Trung ương Đảng, Chánh án TANDTC Trương Hòa Bình đã có Thư chúc mừng gửi Trường Cán bộ Tòa án nhân kỷ niệm ngày nhà giáo Việt Nam 20/11.

Thư của Chánh án TANDTC Trương Hòa Bình gửi Trường Cán bộ Tòa án

Thư của Chánh án TANDTC Trương Hòa Bình gửi Trường Cán bộ Tòa án

Nhân kỷ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11/2014, thay mặt Ban Cán sự Đảng, tập thể Lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC), tôi xin gửi đến các đồng chí Lãnh đạo Nhà trường, các thành viên Hội đồng Trường, đội ngũ giảng viên, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động đã và đang công tác tại Trường Cán bộ Tòa án qua các thời kỳ, lời chúc sức khỏe, hạnh phúc và đạt nhiều thành tích trong công tác.

Các đồng chí thân mến!

Là một cơ sở bồi dưỡng, đào tạo cán bộ cho hệ thống Tòa án, Trường Cán bộ Tòa án đã trải qua 20 năm xây dựng và phát triển (23/08/1994-23/08/2014). Trong một thời gian không dài, nhưng được sự quan tâm đầu tư, chỉ đạo và chú trọng đúng mức đến việc nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ Tòa án, TANDTC đã xây dựng một số Đề án quan trọng nhằm nâng cao năng lực của Trường, từng bước đưa vị thế, quy mô, chất lượng bồi dưỡng, đào tạo của Trường Cán bộ Tòa án lên một cấp độ mới.

Trong mấy năm vừa qua, Trường Cán bộ Tòa án đã có nhiều cố gắng, nỗ lực, vượt mọi khó khăn, lập nhiều thành tích trong công tác bồi dưỡng, đào tạo cho đội ngũ Lãnh đạo, Thẩm phán, Thư ký, Thẩm tra viên TAND các cấp thông qua các chương trình đào tạo ngắn hạn, trung hạn ở trong và ngoài nước. Thành tích của các đồng chí đã bước đầu góp phần nâng cao chất lượng chuyên môn, trình độ nghiệp vụ của cán bộ Tòa án, góp phần quan trọng vào kết quả hoạt động xét xử và công tác chung của toàn hệ thống TAND. Thay mặt Ban Cán sự Đảng, Lãnh đạo TANDTC, tôi nhiệt liệt biểu dương tập thể cán bộ, công chức, giảng viên của Trường, mong các đồng chí tiếp tục phát huy mặt tích cực, phấn đấu đạt thành tích cao hơn nữa trong sự nghiệp đào tạo, giáo dục của mình.

Xác định chất lượng chuyên môn, phẩm chất đạo đức cán bộ, Thẩm phán có vai trò quyết định đến hiệu quả hoạt động xét xử, thực hiện quyền tư pháp của Tòa án, trong thời gian qua, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành nhiều văn bản về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ: Nghị quyết số 01-NQ/BCS ngày 03/01/2013 của Ban Cán sự Đảng TANDTC; Chỉ thị số 01/2013/CT-TA ngày 05/02/2013 của Chánh án TANDTC về lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm công tác của TAND; Báo cáo của Chánh án TANDTC trước Quốc hội khóa XIII… đã xác định việc Đẩy mạnh công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ Tòa án là một trong ba giải pháp đột phá quan trọng của hệ thống TAND (bao gồm: Nâng cao chất lượng tranh tụng tại Tòa án; đẩy mạnh công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ Tòa án; Đảm bảo áp dụng thống nhất pháp luật).

Hiến pháp năm 2013 đã quy định: “TAND là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến, Hiến pháp quy định TAND là cơ quan thực hiện quyền tư pháp quốc gia trong bộ máy Nhà nước. Triển khai thực hiện các nội dung của Hiến pháp năm 2013, tiếp tục thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị, TANDTC đã xây dựng Luật Tổ chức TAND (sửa đổi) và sẽ được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 8 này. Tiếp đó, Tòa án nhân dân tối cao đang khẩn trương tiến hành các công việc để tổ chức thành lập Tòa án cấp cao; Xây dựng quy chế hoạt động và đề xuất thành lập Hội đồng tuyển chọn và giám sát Thẩm phán quốc gia; Tổng kết thực tiễn thi hành và góp ý kiến xây dựng các Luật Tố tụng Dân sự, Hành chính, Hình sự (sửa đổi)… để thích ứng với các quy định mới của Hiến pháp và Luật Tổ chức TAND (sửa đổi); tiếp tục nghiên cứu, đề xuất các giải pháp để làm tốt công tác tổng kết kinh nghiệm xét xử, đảm bảo áp dụng thống nhất pháp luật và cơ chế tuyển chọn, phát triển án lệ; đồng thời, đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện các thủ tục để cấp có thẩm quyền phê duyệt Đề án thành lập Học viện Tòa án trực thuộc TANDTC.

Trước nhiệm vụ nặng nề của hệ thống TAND trong tình hình mới, Trường Cán bộ Tòa án cần quán triệt chỉ đạo của TANDTC, chủ động đề ra những kế hoạch, giải pháp thích hợp để nâng cao chất lượng bồi dưỡng, đào tạo các chức danh tư pháp thuộc TAND. Các đồng chí cần khẩn trương xây dựng giáo trình giảng dạy chuẩn các bộ môn; kiện toàn đội ngũ giảng viên cơ hữu, giảng viên kiêm chức; nghiên cứu, tham khảo các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước về mọi mặt nhằm phấn đấu đạt chuẩn về các tiêu chí giáo dục ngay khi Trường được nâng cấp thành Học viện. Tiếp tục nghiên cứu, đề xuất, xây dựng cơ chế giáo dục theo nguyên lý khoa học “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”, làm sao để học viên chủ động tiếp thu một cách tự giác, sâu sắc các kiến thức, kỹ năng trong quá trình học tập tại Trường.

Trường Cán bộ Tòa án cần phối hợp chặt chẽ với các đơn vị trực thuộc Tòa án nhân dân tối cao, nhất là với Vụ Tổ chức – Cán bộ, rà soát, xem xét, chọn cử các Thẩm phán, Thư ký, Thẩm tra viên trong toàn hệ thống TAND, đặc biệt ưu tiên TAND cấp huyện… để có kế hoạch bồi dưỡng, đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tiến tới chuẩn hóa các chức danh tư pháp trong hệ thống TAND.

Tôi yêu cầu các Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có thâm niên, kinh nghiệm công tác xét xử lâu năm, cần phát huy tinh thần tích cực tham gia xây dựng TAND trong sạch vững mạnh, đóng góp, xây dựng các chương trình, giáo trình và tích cực tham gia công tác giảng dạy đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn giảng dạy các chương trình bồi dưỡng, đào tạo các chức danh tư pháp Tòa án, giúp cho Trường Cán bộ Tòa án hoàn thiện nhanh các bộ giáo trình chuẩn, chuẩn bị cho việc thành lập Học viện TAND.

Nhân dịp mừng kỷ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11/2014, một lần nữa, tôi xin chúc tập thể đội ngũ các thầy giáo, cô giáo, các đồng chí giảng viên, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, tập thể học viên của Trường cùng gia đình luôn dồi dào sức khỏe, hạnh phúc, hoàn thành tốt nhiệm vụ dạy và học, góp phần cùng toàn hệ thống TAND, Tòa án Quân sự thực hiện thắng lợi Chiến lược cải cách tư pháp của Đảng, góp phần xây dựng đất nước ngày càng phát triển với mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”.

Thân ái.

Trương Hòa Bình (Bí thư TW Đảng, Chánh án TANDTC)

 

Continue Reading